Nhân Học Truyền Thông

21:34 |
Những vấn đề Nhân học đối với Việt Nam trong môi trường truyền thông mới của xu hướng đồng sản xuất xuyên quốc gia
Hơn 4 năm qua, người dân thành phố ở Việt Nam đã dần quen với việc nhìn thấy các poster phim ảnh và nhiều vật phẩm khác in bằng tiếng Việt tiếp thị cho những bộ phim nhập khẩu. Các chương trình truyền hình cáp hậu trường (behind-the-scenes) phát trên Cinemax, HBO, và Celestial Movies đều có phụ đề tiếng Việt song song với sự gia tăng nhanh chóng của những bộ phim Mỹ, Trung Quốc và Hàn Quốc ở các rạp chiếu. Các nhà phân phối Việt Nam giờ đây đang thử nghiệm công nghệ thu âm nhiều giọng (multiple-voice soundtrack recording) bằng tiếng Việt do các diễn viên thực hiện phục vụ cho phim hoạt hình, đánh dấu một sự chuyển hướng quan trọng từ việc thuyết minh đơn giọng (the single voice-bubbing) hiện vẫn còn thống trị trên các chương trình truyền hình nước ngoài và các rạp chiếu địa phương. Công ty truyền thông MegaStar hợp tác với công ty Phương Nam đang xây dựng một hệ thống rạp chiếu đa phương tiện; trong khi đó các đại diện từ Time Warner thường xuyên tư vấn cho chính phủ Việt Nam về luật bản quyền. Cùng với các dịch vụ truyền hình cáp mới mẻ, sự tiến triển của tình hình nhập khẩu DVD và sự mở rộng những chọn lựa dịch vụ internet liền với nó là hàng loạt trò chơi trực tuyến, nhiều trò chơi đã được cấp phép ở Hàn Quốc và đã được “bản địa hóa” với các chức năng được dịch ra tiếng Việt, môi trường truyền thông mới đã thực sự bắt đầu. Khi nguồn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam tăng vọt sau sự kiện đất nước này gia nhập WTO, cơn đại hồng thủy những nội dung trọn gói nước ngoài dành cho người tiêu thụ Việt đã gây nên những vấn đề làm nản chí các nhà sản xuất nội dung truyền thông địa phương và các nhà Nhân học văn hóa.
Những cộng sự người Ghana trong phim cùa Jean Rouch

Ở các quốc gia khác, sự đồng sản xuất xuyên quốc gia đã trải qua một bước ngoặt mới với những chiến lược tiếp thị toàn cầu gần đây của những gã khổng lồ truyền thông như Sony và Universal Pictures. Những xu hướng này có ý nghĩa như thế nào đối với văn hóa Việt Nam và nó thể hiện trên phim như thế nào? Phải chăng những trò chơi trên máy tính được bản địa hóa thể hiện phần nào văn hóa truyền thông Việt Nam? Những câu hỏi này nên thường trực trong tâm trí những nhà Nhân học đương đại – những phương pháp và công cụ của họ có thể có ích nhiều mặt cho điện ảnh, truyền hình và truyền thông kỹ thuật số của Việt Nam. Giờ đây, hơn bao giờ hết những mô hình Nhân học cần được áp dụng vào nghiên cứu truyền thông mới ở Việt Nam; không chỉ để thúc đẩy một nền kinh tế dựa trên sự công bằng lành mạnh mà còn trực tiếp đảm bảo tính liên tục của văn hóa Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh đang bành trướng toàn cầu.
Bài viết dưới đây tập trung vào khâu sản xuất phim ảnh bởi vì đây là ví dụ cụ thể của sự thể hiện mang tính văn hóa trong bối cảnh giao lưu truyền thông mới và nó đòi hỏi những khuôn khổ thế chế ngắn và dài hạn tạo điều kiện cho việc thực hành Nhân học. Thay vì kêu gọi những hành động cụ thể, tôi cho rằng quan niệm về tính phản thân của nhà Nhân học Thị giác Jay Ruby và những ý tưởng về việc một ngành “Nhân học chia sẻ” và nhập cuộc của Jean Rouch là rất thích hợp để xem xét những xu hướng đồng sản xuất gần đây, và thú vị nhất là nó hướng đến những tiềm năng sáng tạo của sự kể chuyện. Mục đích của tôi là khuyến khích nghiên cứu Nhân học trong lĩnh vực phim ảnh, điều có thể ứng dụng hiệu quả vào những lĩnh vực nghiên cứu khác của môi trường truyền thông mới.
Vốn biểu tượng
Những nhà Nhân học cấu trúc và tượng trưng trong một thời gian dài đã cho rằng văn hóa là một hệ thống biếu tượng và sự mô tả này đã được chia sẻ khá hiệu quả bởi các ngành khoa học xã hội khác cũng như các ngành ký hiệu học, lý thuyết phim và có lẽ quan trọng nhất là tiếp thị và quảng cáo. Vốn biểu tương (Symbolic capital) là một khái niệm được phát triển bởi nhà xã hội học Pierre Bourdieu, phản ánh sức mạnh của con người hoặc các thể chế mà quan điểm được chấp nhận và được mô phỏng lại trong cuộc diễn ngôn công cộng. Không đơn thuần là một vấn đề kinh tế, mặc dù Bourdieu thừa nhận sức mạnh của tiền bạc, vốn biểu tượng đúng hơn là một vấn đề về sự sản xuất văn hóa, và tôi nghĩ rằng khái niệm này rất hữu ích khi xem xét đến vị thế bá chủ danh nghĩa của Hollywood trên thế giới ngày nay. Khi quyền sở hữu tài chính dịch chuyển từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác dưới dạng đầu tư xuyên quốc gia, những biểu tượng văn hóa đặc thù thay đổi như thế nào? Những biểu tượng nước ngoài được hấp thu vào những thực tiễn văn hóa địa phương ra sao? Chúng được chia sẻ như thế nào? Điều gì đang bị đe dọa khi nguồn vốn biểu tượng của một số nền văn hóa được toàn thế giới chấp nhận với cái giá là một số nền văn hóa khác? Những thể chế ở bản địa như ngân hàng, trường học, doanh nghiệp, gia đình hay các nhóm lao động chịu ảnh hưởng bởi nguồn vốn biểu tượng của những nền văn hóa nước ngoài thông qua các dự án truyền thông quy mô lớn như thế nào? Đây là những vấn ra mà các nhà Nhân học văn hóa ở Việt Nam có thể bắt đầu đặt ra trong môi trường truyền thông mới của nền đồng sản xuất xuyên quốc gia ở Đông Nam Á.
Năm 2007 là một năm đầy ắp các sự kiện đối với nền đồng sản xuất xuyên quốc gia. Tại Liên hoan phim quốc tế Berlin đầu tháng 2, đồng chủ tịch mới của Uviersal Pictures, một trong năm hãng phim lớn nhất Hollywood, ông David Linde, đã đưa ra một bài phát biểu nhấn mạnh đến “nền kinh tế phim ảnh mới” dựa trên việc phát hành trên toàn cầu. Ông thông báo các dự án của Universal liên kết với các nhà sản xuất tại 7 quốc gia khác nhau. Trong khi các hãng phim lớn như Disney đang cắt giảm sản xuất thì ông Linde cho biết Universal sẽ để tâm hơn đển việc sản xuất bằng cách đầu tư cho các nhà làm phim riêng lẻ những người am hiểu khán giả ở nước mình. Ba tháng sau tại LHP Cannes, Universal thông báo dự án đồng sản xuất 5 phim với ba đạo diễn nổi tiếng người Mexico, báo hiệu sự bành trướng của họ hướng đến các khán giả nói tiếng Tây Ban Nha ở Mexico và Mỹ Latin. Những dự án này sẽ được kiểm soát và phân phối trên toàn thế giới thông qua Focus Features, một bộ phận “đặc biệt” của Universal. Công ty con này do Linde và cộng sự của mình là James Schamus lập ra vào năm 2002. Ngay sau đó, vào tháng tám, The Weinstein Company (TWC), có trụ sở tại New York, lập ra một quỹ phim ảnh Châu Á trị giá 285 triệu đô la Mỹ để chuẩn bị cho việc đồng sản xuất với các đối tác địa phương. Công ty này đặt mục tiêu phát hành 21 phim chiếu rạp và 10 phim chiếu trực tiệp bằng video, với tuyên bố sẽ chú trọng đến thị trường toàn cầu. Cũng giống như Universal, TWC đã rất hăng hái trong việc “chia sẻ nhân tài và những câu chuyện hấp dẫn” với các nhà làm phim địa phương và khán giả trên thế giới.

Tháng sau đó, sinh viên tại trường đại học Nghệ thuật điện ảnh Nam California (USC), trường điện ảnh hàng đầu ở Mỹ, được thết một buổi nói chuyện chuyên đề do cựu sinh viên của trường, ông Ignacio Darnaude, hiện là giám đốc thị trường của Sony Pictures, vào tháng 9 năm 2007. Ông bắt đầu bằng nhận xét rằng năm 2005 có bốn bộ phim nước ngoài đã kiếm được hơn 45 triệu đô la Mỹ tại các điểm bán vé ở Hoa Kỳ, sang năm 2006 số phim thành công ở mức này lên đến 10 phim, một sự thay đổi quan trọng chỉ trong 2 năm qua. Ông nói thêm trong những bộ phim “cột lều” có ngân sách khổng lồ của Hollywood như Người nhện hay Shrek, thường thành công trên toàn thế giới thì ở hầu hết các quốc gia phim nội địa lại qua mặt những bộ phim hài và phim tình cảm Mỹ trong năm 2006. Điều này càng ấn tượng nếu so sánh chi phí làm phim: một bộ phim tình cảm Hollywood điển hình tốn từ 20 đến 60 triệu đô la Mỹ, còn phim nội địa rất hiếm khi vượt quá ngân sách 2 triệu đô. Darnaude làm nói rõ rằng các nhà điều hành Hollywood đang đầu tư vào sản xuất phim nội địa và rằng ở Tây Ban Nha bốn trong số sáu phim đứng đầu năm 2006 là phim đồng sản xuất với các hãng lớn. Ở công ty của ông, phim Ninas Mal(Charm School) được sản xuất tại Mexcico với giá 1.7 triệu đô la Mỹ nhưng đã vọt lên đứng đầu tại các điểm bán vé địa phương, đem về hơn 7 triệu đô la Mỹ truớc khi hết năm. Ông hướng dẫn sinh viên qua những bước tiếp thị quốc tế và nhận xét rằng các nhà điều hành giờ đây đang giám sát việc phân phối phim trên toàn thế giới để tận dụng những ưu thế của những điều kiện tốt nhất cho việc phát hành phim mới ở nước ngoài. Nhưng ông cựu sinh viên USC cũng lưu ý rằng phim Hollywood vẫn tiếp tục thống trị các thị trường phim ở khắp nơi bất chấp những mối quan tâm gần đây đối với việc sản xuất ở địa phương. Ông cũng cảnh báo rằng một khi các tài năng của nước sở tại đã gặt hái thành công, họ thường di cư đến Mỹ để tiếp tục sự nghiệp của mình.
phim Ninas Mal(Charm School) được sản xuất tại Mexcico với giá 1.7 triệu đô la Mỹ nhưng đã vọt lên đứng đầu tại các điểm bán vé địa phương, đem về hơn 7 triệu đô la Mỹ truớc khi hết năm

Có rất nhiều ví dụ về những tài năng điện ảnh thế giới gia nhập vào hệ thống studio Hollywood ngay từ thời kỳ phim câm hay hình mẫu nhập cư từ Châu Âu; và ba đạo diễn Mexico đang làm việc với hãng Focus Features cũng là những ví dụ điển hình. Cả ba người đều đã làm phim nghệ thuật đạt giải thưởng tại các LHP quốc tế, và sau đó thông qua đại lý hoặc các mối quan hệ cá nhân khác họ chuyển dến những cơ sở sản xuất lớn hơn ở Los Angeles, thậm chí họ đã giành được giải thưởng Hàn lâm (Oscar – người dịch). Họ là những trường hợp đặc biệt theo nghĩa là thỏa thuận mới đây với Focus/Universal đã gửi họ về lại Mexico và khán giả nói tiếng Tây Ban Nha, với những khoản ngân sách nhỏ, chứ không phải là mở rộng để biến họ thành thành hạng “cọc lều” như đạo diễn Australia Peter Jackson. Những thay đổi khác gần đây trong xu hướng di cư của các nhà làm phim thế giới để gia nhập hệ thống tài chính của Hollywood còn bao gồm cả việc mua quyền “làm lại” các phim của John Woo (Hồng Kông), Park Chan-wook (Hàn Quốc) và Bong Joo-ho (Hàn Quốc). Nhưng nhà làm phim đồng sản xuất xuyên quốc qua nổi bật nhất những năm gần đây là Lý An người Đài Loan. Lý An lần đầu tiên được đề cử giải Oscar cho phim nước ngoài hay nhất vào năm 1993 với bộ phim truyện thứ hai của ông, The Wedding Banquet (Tiệc cưới), bộ phim chỉ tốn chưa đến một triệu đô la Mỹ nhưng đã đạt doanh thu trên 60 triệu đô tại các điểm bán vé trên thế giới. Ba bộ phim truyện đầu tiên của ông đều được đồng sản xuất bới hãng phim nhà nước của Đài Loan và một công ty nhỏ ở New York có tên Good Machine. Năm 2002 là một năm đặc biệt đối với Lý An và hãng Good Machine khi bộ phim ăn khách khắp thế giới Crouching Tiger Hidden Dragon (Ngọa hổ tàng long) đạt kỷ lục bán vé và giành được nhiều giải thưởng Hàn lâm. Bộ phim này đến nay vẫn là mẫu hình tiêu biểu của việc xuất khẩu phim đồng hợp tác xuyên quốc gia. Thực tế, đó là một hệ thống biểu tượng lai ghép giữa Hồng Kông, Đài Loan và Mỹ hướng đến khán giả toàn thế giới. Cũng trong năm đó, hai trong số ba đối tác của Good Machine đã bán công ty của họ cho hãng Universal Pictures. Hai đối tác David Linde và James Schamus đã lập ra một “chuyên ban” mới, gọi là Focus Features, xưởng đã sản xuất bộ phim đoạt giải Oscar tiếp theo của Lý An, Brokeback Mountain, năm 2005, bộ phim tốn mười bốn triệu đô la và đem về 120 triệu đô la tại các điểm chiếu sau khi đã trụ rạp cho đến năm 2006. Mặc dù Lý An lớn lên ở Đài Loan, ông học diễn xuất và đạo diễn ở Mỹ và trở thành một viên kim cương sáng chói của nền tiếp thị toàn cầu qua các liên hoan phim và báo chí nội địa.
Năm 2003, vào thời điểm TWC phát hành Kill Bill của Quentin Tarrantino, bộ phim do ba quốc gia châu Á khác nhau đồng sản xuất, “nền kinh tế điện ảnh mới” mà David Linde đề cập tới tại Berlin năm 2007 đã được thiết lập. Đó là nền tảng cho sự nổi tiếng trên tòan thế giới của Lý An trong mười năm qua. Khi Linde khẳng định điều này với khán giả Berlin với tư cách là tân đồng chủ tịch của Unviersal Pictures, bản thân địa vị của ông cũng đã cho thấy việc sản xuất phim ngân sách nhỏ xuyên quốc gia đã trở nên quan trọng ra sao đối với nền công nghiệp Hollywood. Linde đi lên từ vị trí đại diện tiếp thị và bán hàng tại công ty phim đầu tiên của Weistein, Miramax, rồi trở thành cộng sự của Good Machine và sau đó là đồng sáng lập viên Focus Features. Bài phát biểu của ông với cương vị là tân đồng chủ tịch hãng Universal gồm những lời nhận xét xuất phát từ kinh nghiệm: “phim được làm ở khắp nơi, lấu bối cảnh ở khắp nơi và kể những câu chuyện về con người ở khắp nơi”. Triết lý này một mặt phản ánh sự chuyển hướng của Hollywood khỏi chiến lược xuất khẩu và sự đa dạng hóa một trật tự biểu trưng đang ngự trị; mặt khác nó cũng cấu thành nên những khuynh hướng bành trướng liên tục của Universal, TWC, Sony và tất cả công ty kinh doanh truyền thông lớn khác của Hollywood, bởi các sản phẩm của Mỹ hiện vẫn thống trị thị trường truyền thông thế giới.
Universal, TWC, Sony và tất cả công ty kinh doanh truyền thông lớn khác của Hollywood, bởi các sản phẩm của Mỹ hiện vẫn thống trị thị trường truyền thông thế giới

Cộng sự cũ của David Linde tại Focus Feature, ông James Schanmus, cũng là một sử gia trong lĩnh vực điện ảnh giảng dạy tại đại học Columbia, New York. Trong một bài báo gần đây cho tạp chí the New Yorker, nhà phê bình phim David Denby phỏng vấn Schamus trong khuôn khổ một cuộc khảo sát quy mô lớn về hiện trạng công nghiệp điện ảnh Mỹ gần đây. Vấn đề chính mà bài báo này hướng đến là dự đoán tác động của công nghệ mới đến việc sản xuất và tiếp nhận phim trong những năm tới. Denby dẫn ra những cách tân gần đây như việc phát hành phim trên điện thoại di động, các dịch vụ phát hành “theo yêu cầu”qua internet, bao gồm cả việc chiếu phim bằng kỹ thuật số ở các rạp. Công thêm với đủ loại loại máy quay kỹ thuật số và những thiết bị dựng phim không đắt tiền, dường như ngày nay bất cứ ai cũng có thể trở thành nhà làm phim và xem phim gần như khắp mọi nơi. Denby tỏ ra lo lắng về sự tàn lụi của điện ảnh truyền thống trong bối cảnh có quá nhiều sự cách tân về mặt kỹ thuật, bởi vì theo quan điểm của ông, việc chiếu phim tại rạp là sự kiện công cộng, nó kéo các nhóm người lại với nhau theo cách mà truyền hình và phương tiện truyền thông cá nhân không thể làm được. Nhưng Schamus quả quyết với ông rằng chính vì thế mà các rạp chiếu vẫn tồn tại. “Phim là cái cớ cho tương tác xã hội”, Schamus nói. “Vì vậy đừng nghĩ về tương lai dưới con mắt công nghệ. Vấn đề không phải là nền tảng công nghệ, mà là việc con người muốn sử dụng các không gian xã hội như thế nào, các nhóm người theo chủng tộc và độ tuổi muốn tương tác với nhau như thế nào”.
Sự tham dự và tính phản thân
Nhìn ở giá trị bề mặt, tuyên bố của Schamus có vẻ mỉa mai bởi vì kinh nghiệm xem phim là một hình thức tương tác xã hội đặc biệt diễn ra ở trong phòng tối và phim được thừa nhận cách rộng rãi là những hệ thống biểu tượng. Thế nhưng ý kiến của ông lại tỏ ra tinh tế và quan trọng khi chúng ta xem xét vấn đề Nhân học của việc đồng sản xuất xuyên quốc gia. Bằng việc chỉ ra sự lựa chọn của “các nhóm tuổi và chủng tộc” Schamus kết hợp vai trò người thầy với một vai trò khác của ông là một nhà điều hành hãng phim, đồng thời giới thiệu khía cạnh thị hiếu và mong muốn cá nhân cũng như liên kết xã hội trong các không gian công cộng, nói tóm lại, sự tham gia, tất cả các khái niệm hữu ích đối với những nhà tiếp thị, kinh tế học và nhà Nhân học. Xem xét những động thái gần đây của Focus/Universal hướng tới thị trường Mexico và của các nhà phân phối khác như TWC ở Châu Á, các nhà Nhân học ở Việt Nam, tương tự như vậy, có thể phản ánh tình hình sản xuất phim bản địa và tiềm năng của nó trên vũ đài đồng sản xuất xuyên quốc gia. Không chỉ quan sát sự vận động của nguồn vốn và việc tái cấu trúc của các tổ chức một cách thuần túy về mặt lợi nhuận kinh doanh, văn hóa phim Việt Nam duy trì lợi ích từ nghiên cứu Nhân học hướng vào chính bộ máy của nó với mục tiêu tìm kiếm những mối liên hệ hữu ích trong môi trường truyền thông đương đại. Hiểu rõ hơn những hình thức và phương tiện của sự phản ánh văn hóa có thể giúp ích cho ngành công nghiệp điện ảnh cổ phần hóa của Việt Nam, đồng thời tránh được sự phi địa phương hóa(deterritorialization) thực sự, một khái niệm được Gilles Deleuze và Felix Guattari phát triển, do sự mất cân đối nguồn vốn biểu tượng của các tập đoàn truyền thông quốc tế.
Nhà làm phim Gilles Deleuze 
Tuy vậy, một bộ phim được phát hành tại các rạp trên khắp thế giới tuy vậy lại kéo theo sự tham gia của một cộng đồng quốc tế, và việc sản xuất nội địa bằn vốn ngoại quốc đôi khi có thể vươn rất xa ngoài biên giới quốc gia. Đây là một mặt khác của “nền kinh tế điện ảnh mới”. Điều này liệu có đúng với cả việc phát hành DVD, internet và truyền hình hay không? Như đạo diễn nổi tiếng Trung Quốc Jia Zhangke đã khám phá khi ông gửi những bộ phim truyện đầu tiên quay bằng máy quay video rẻ tiền của mình tới các liên hoan phim danh giá như Venice và Cannes, giá trị cao hơn về mặt sản xuất ấp của các bộ phim Hollywood kinh phí lớn không phải lúc nào cũng là điều quan trọng nhất đối với ban giám khảo. Và giờ đây, sau khi đã giành được các giải thưởng và chiếm được một số lượng khán giả đáng kể ở Châu Âu, Canada, Nhật Bản và Mỹ, Zhangke đang làm việc với hãng phim Beijing về những dự án sản xuất xuyên quốc gia phức tạp và tốn kém hơn nhiều, vẫn là quỹ đạo nghề nghiệp mà các đạo diễn Mexico như Cuaron, Inarritu, và Del Toro, những người gần đây vừa mới ký hợp đồng với hãng Focus/Universal, từng trải qua. Phim của Zhangke giờ đây không bị các nhà chức trách Trung Quốc kiểm duyệt nữa và ông nắm quyền kiểm soát sáng tạo đối với mỗi dự án.

Mặt khác, chuẩn mực Hollywood vẫn tiếp tục đóng vai trò thước đo uy tín và khả năng thương mại của các nhà làm phim trên thế giới mà đạo diễn Zhangke vẫn chưa thể đạt đến ngưỡng của nó. Tuy vậy Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật năm nay đã nhận số phim kỷ lục, 63 phim, từ các nước gửi tới để tranh giải phim nói tiếng nước ngoài hay nhất, trong số đó có phim Việt Nam Áo lụa Hà Đông của đạo diễn Lưu Huỳnh, điều không đáng ngạc nhiên bởi Hoa Kỳ là một quốc gia nhập cư. Nhưng phim Mỹ có lịch sử thống trị thị trường thế giới mạnh đến nỗi các chính phủ một số nước, như Hàn Quốc, phải ban hành hệ thống quota nhằm bảo vệ các nhà làm phim nội địa trước quyền bá chủ của phim Mỹ. Các giải thưởng Hàn lâm là cơ hội cho các nhà làm phim trên khắp thế giới gây được sự chú ý đối với hệ thống kênh kiệu của Hollywood sở hữu một mạng lưới phân phối quốc tế khổng lồ. Tuy nhiên, sự mạo hiểm là họ sẽ chỉ được ban thưởng nếu chơi theo luật của Hollywood.
Trong một bài báo quan trọng viết năm 2004 có nhan đề “Phim nước ngoài bây gì là gì?” người phụ trách chuyên mục phê bình phim của tờ New York Times, ông A.O. Scott, suy ngẫm về ý tưởng của các đạo diễn Canada Atom Egoyan và Ian Balfour rằng “Mọi bộ phim đều là phim nước ngoài, nước ngoài đối với khán giả tại một nơi nào đó”. Scott xót xa cho thị trường nhỏ bé dành cho phim nước ngoài ở Mỹ,
Điều tôi lo ngại nhất là về khán giả Mỹ, đặc biệt là tâm lý địa phương nảy sinh từ cuộc sống ở một đất nước có nền công nghiệp điện ảnh quá hùng mạnh và năng suất, quá lộ liễu và phấn khích với những tham vọng bá chủ của mình, đến nỗi nó đe dọa làm lu mờ tất cả mọi thứ khác. Đó không chỉ là bối cảnh và nội dung của phim, như The World (Thế giới, Zhangke – DW), dường như xa lạ, mà cả những thủ pháp thị giác và kể chuyện của nó cũng vậy; nhưng trên hết là thái độ dửng dưng trong việc miêu tả cuộc sống đời thường, một loại chủ nghĩa hiện thực, xét ở một số phương diện, còn xa lạ với chúng ta hơn cả thực tế mà nó mô tả. Các hãng phim Hollywood, vì phải nỗ lực bảo vệ địa vị thống trị của mình trên thị trường giải trí toàn cầu, đang đầu tư mạnh mẽ hơn bao giờ hết vào trí tưởng tượng, vào những thế giới giả mạo đầy phép thuật, hơn là tham gia vào thế giới đang tồn tại và vào các Nghiên cứu và triển khai (R&D) kỹ thuật cần phải có để mở rộng chân trời của cái mới và của cảm giác. Và trong khi chúng ta, cùng với tất cả mọi người, vẫn xem phim để thoát khỏi những áp lực và khó khăn trong thế giới thực, đôi khi chúng ta cũng đi để khám phá ra thế giới thực đó.
David Linde 
Được đưa ra trước ý tưởng của David Linde rằng “phim được làm khắp mọi nơi” ba năm đầy ý nghĩa, những suy ngẫm về ngành công nghiệp điện ảnh Mỹ và tương quan của nó với cộng đồng quốc tế đã bộc lộ những thay đổi thể chế rất quan trọng đối với Việt Nam. Với việc xã hội Việt Nam đang chuyển dần sang một nền kinh tế cổ phần và giao lưu văn hóa diễn ra thường xuyên hơn cùng với sự tăng trưởng của thương mại, anh khán giả phải đối mặt với một loạt khả năng và lựa chọn truyền thông mới. Thế hệ sinh ra vào thời bình đang bắt đầu hòa nhập vào lối sống tiêu thụ và hệ quả là đã “khám phá” ra “thế giới thực sự”, theo thuật ngữ của Scott, thông qua phim và truyền hình. Sự gia tăng 50% trong số tiền bán vé từ các rạp chiếu phim nói lên điều gì về việc “con người muốn sử dụng những không gian xã hội” như thế nào và “các nhóm chủng tộc và độ tuổi muốn tương tác với nhau” ra sao? Lời đáp cho những câu hỏi này sẽ hỗ trợ ngành công nghiệp điện ảnh nội địa mạnh mẽ như nó sẽ bảo tồn nguồn vốn biểu tượng của Việt Nam, ngôn ngữ và cách nhìn cuộc sống của nó khỏi sự hoà tan dưới sức ép từ sự xâm nhập dữ dội của truyền thông nước ngoài.
Điều tôi đề xuất không chỉ là Nhân học thị giác dưới dạng chính thống của nó. Trái lại, tôi tin rằng những nỗ lực của Jay Ruby, một trong những người tiên phong trong lĩnh vực này, hữu ích hơn nhiều trong môi trường truyền thông mới ở Đông Á. Các nhà Nhân học văn hóa sẽ sáng suốt nếu gia giảm “việc kinh doanh thông thường” của việc làm phim dân tộc để hướng đến sự hành nghề mang tính phản thân hơn, như Jean Rouch đã làm, là đặt máy quay vào tay của một cộng đồng người đang là đối tượng nghiên cứu và tìm hiểu bản thân việc làm phim như là một thể chế văn hóa, một nguồn quan trọng của vốn biểu tượng. Mới đây, quỹ Ford đã hợp tác với các nhóm người ở Vân Nam để tiến hành chính điều này với các cộng sự Việt Nam, và bộ phim Thảo nguyên tươi xanh của nhà làm phim Phan Ý Ly là ví dụ khác của một sự đổi hướng khiêm tốn, cho dù động cơ thúc đẩy chính là đề tài bất công vì nghèo đói hơn là quy mô rộng lớn của hư cấu tự sự. Tuy nhiên, sự mở rộng của thị trường phim tài liệu trên toàn thế giới, đã đưa ra các khía cạnh mỹ học và thể loại khác nhau đến từ nhiều quốc gia, một xu hướng trở nên phổ biến từ năm 2004 nhờ sự thành công của bộ phim đạt giải Hàn lâm, Born into Brothels,trong đó máy quay được trao cho lũ con của gái điếm ở Calutta. Nhưng thực tế điều mà Ruby kêu gọi ở đây chính là một sự cách tân trong giáo học pháp truyền thông. Trên trang web cá nhân anh giải thích:
Nhân học Thị giác thường được nhìn nhận đơn thuần như là một từ lạ đối với điện ảnh chủng tộc. Tôi nghĩ lĩnh vực này rộng và phức tạo hơn, khảo sát mọi khía cạnh của thế giới hữu hình với lợi thế của các lý thuyết về văn hóa và giao tiếp. Điện ảnh chủng tộc là một nhánh nhỏ của thế giới phim tài liệu và gần như hoàn toàn hướng đến truyền hình và lớp học. Nó tự tách mình ra khỏi dòng chủ lưu của Nhân học văn hóa một phần vì rất ít nhà làm phim chủng tộc học là những nhà Nhân học bài bản, và các nhà lý thuyết của dòng phim chủng tộc như Bill Nichols và Trịnh Thị Minh Hà chưa hiểu biết đầy đủ về Nhân học.
Có hai cuốn sách điển phạm mà bất kỳ ai quan tâm đến “Nhân học Thị giác” đều đọc đó là Phim dân tộc học (Ethnographic Film) của Heider và Các nguyên lý của Nhân học thị giác (Visual Anthropology) của John Collier. Tôi thấy những tác phẩm này chưa được lý thuyết hóa đến mức cần thiết, và theo cách đó đã tầm thường hóa lĩnh vực. Hơn nữa hiện vẫn còn chưa có cuộc thảo luận nào bàn về sự thỏa đáng của chúng. Vì vậy tôi đã bổ sung các bài nhận xét của mình về Heider và Hocking vào danh sách những bài viết của tôi trên trang web này. Cùng với Sol Worth và những người khác, tôi bảo vệ một phương pháp tiếp cận Nhân học thị giác có tên là Nhân học giao tiếp thị giác (Anthropology of visual communication) [Tôi nhấn mạnh – DW]. Nhiều tiểu luận trong cuốn Nghiên cứu giao tiếp thị giác (Studying Visual Communication) của Worth đã trình bày quan điểm này. Tôi từng là giám độc một chương trình Sau đại học tại trường Đại học Temple nơi những ý tưởng này được khảo sát. Cùng với đồng nghiệp Bapa Jhala, Niyi Akinasso, và Denise O’Brien, chúng tôi đã phát triển một chương trình sau đại học độc đáo về Nhân học giao tiếp thị giác từ năm 1990 đến 2002.
Tuy nhiên, ngay đầu năm 1980, Ruby đã biện hộ rằng “tất cả những nhà dân tộc học và nhà làm phim nghiêm túc đều có bổn phận khoa học, mỹ học, dân tộc học trong việc tự vấn và tự phê bình tác phẩm của mình. Thực tế, tôi sẽ mở rộng sự trách nhiệm này đến bất kỳ ai sử dụng hệ thống biểu tượng vì bất kỳ lý do gì”. Quan điểm của tôi là cách nghĩ này không loại trừ Nhân học, các ngành khoa học xã hội hay ngành công nghiệp điện ảnh với tư cách là dự án kinh doanh. Đấy là đơn giản là một lời khuyên có căn cứ. Sự thăng tiến của David Linde lên vị trí đồng chủ tịch của một trong năm hãng phim lớn nhất Hollywood liên quan đến sự cộng tác của ông ta với James Schamus và Lý An trong sản xuất phim xuyên quốc gia từ năm 2002. Linde và hãng Weinsteins, và các hãng khác đang đầu tư vào điện ảnh thế giới, thừa nhận những lợi ích văn hóa và tài chính của việc hỗ trợ sản xuất phim nội địa, nhưng họ đã không thể rút ra kết luận này nếu không “tự phê bình tác phẩm của chính mình”. Điều này nghĩa là, họ đã quan sát kỹ lưỡng quá trình làm ra, tiếp thị và phân phối phim, cũng như các thể chế văn hóa đảm bảo cho nó.
Đầu năm 1980, Ruby đã biện hộ rằng “tất cả những nhà dân tộc học và nhà làm phim nghiêm túc đều có bổn phận khoa học, mỹ học, dân tộc học trong việc tự vấn và tự phê bình tác phẩm của mình. Thực tế, tôi sẽ mở rộng sự trách nhiệm này đến bất kỳ ai sử dụng hệ thống biểu tượng vì bất kỳ lý do gì”.
Họ không phải là những người đầu tiên, và sự phản thân cũng vượt xa ra ranh giới ngành phim tài liệu, Nhân học thị giác và sự phát triển kinh doanh. Chẳng hạn, Jean Luc Godard, một trong những đạo diễn làm nhiều phim nhất của Làn Sóng Mới ở Pháp đã có được một sự nghiệp rất phong phú bằng cách kết hợp những ý tưởng phản thân của Bertold Brecht, Alain Robbe-Grillet, Glauber Rocha với ý tưởng của các tác giảHollywood như Howard Hawks vào trong quá trình sáng tạo của mình. Những seri quy mô lớn của ông trên truyền hình Pháp được sưu tập từ hàng nghìn đoạn phim từ vô số nguồn khác nhau, có tên là Lịch sử điện ảnh, lắp ghép các hình ảnh truyền thông vào một tiểu luận phê bình hỗn tạp để phát sóng không có thuyết minh. Đó là một sự lắp ghép siêu văn bản phản thân đậm đặc (densely reflexive hyper textual bricolage),như thuật ngữ của Levi-Strauss, và nó đặt câu hỏi về vị trí của chính Godard trong lịch sử tự sự của điện ảnh. Jia Zhangke, cũng vậy, đã quan sát kỹ lưỡng văn hóa và các thể chế của nền sản xuất phim Trung Quốc trước khi quyết định làm bộ phim đầu tay của mình,Platform, bằng phim video. Bộ phim mở đầu như đoạn phim tài liệu ghi lại hình ảnh một nhóm múa lưu động, về cơ bản là một bộ phim chủng tộc học. Nhưng nó dần dần trở thành một câu chuyện hư cấu khi các diễn viên hoà nhập vào quá trình làm phim, một sự biến đổi được Zhangke ghi lại bằng máy quay trong khi cộng tác với đoàn làm phim của mình. Deleuze đề cập đến quá trình đến như là chức năng của ngụ ngôn (function of fabulation) trong tác phẩm của nhà Nhân học Jean Rouch, và tôi cho rằng nó đã đưa ra một mô hình tuyệt vời cho những chiến lược sáng tạo mới.
Làm phim phản thân và tham dự là một phương pháp tự thanh lọc và cách tân đối với Rouch, người có ảnh hưởng lớn đến Nhân học châu Phi và lịch sử điện ảnh. Trong bộ phim của mình, Jaguar, chẳng hạn, Rouch đã cộng tác với ba thanh niên từ Nigeria đến Gold Coast tìm việc làm. Họ cùng sản xuất ra cái mà Rouch đặt tên là phim “hư cấu chủng tộc học” dựa trên sự chuyển biến cá nhân trong quá trình làm phim. Bộ phim này không phải là “tác phẩm thời vụ”, như người ta vẫn nói như vậy, theo nghĩa của ngành điện ảnh, hay là sự “sự tái tạo hiện thực” như trong nhiều bộ phim tài liệu trình diễntheo nguyên tắc phân loại của Bill Nichols. Thay vào đó, ba nhân vật chính trong phimJaguar cùng làm việc với đạo diễn để cắt cảnh, dựng phim và thiết kế âm thanh, kết hợp các yếu tố tình cờ để các chi tiết mới mẻ trong câu chuyện được khơi lên từ chính quá trình sản xuất. Trong khi lang thang, ba lữ khách gặp một bộ tộc có tên là Somba, một nhóm dân cư miền núi heo hút, không mặc quần áo. “Đây là những con người hiền lành” một nhân vật nói. “Chúng ta không nên chế nhạo bộ tộc Somba chỉ vì họ trần truồng. Chúa trời muốn họ sống như thế”. Trong một bộ phim khác, Moi, un noir (Tôi, một người da đen), Rouch cộng tác với những cư dân trẻ của một thị trấn vùng Abidjan để miêu tả cuộc sống hằng ngày của họ. Cách làm này sử dụng việc sản xuất phim như là một dịp để “huyền thoại hóa” với việc mang tên của các diễn viên Hollywood kinh điển như G. Robinson, Eddie Constatine, Lemmy Caution, Tarzan, và Dorathy Lamour. Diễn xuất và các yếu tố của cốt truyện đều được ứng tác, bởi vì những người tham gia đều tuân theo trực giác và khả năng sáng tạo của mình. Một lời thuyết minh bông lơn khiến khán giả phương Tây nhận diện các nhân vật mà không cần viện đến những khuôn sáo ủy mị và ước lệ vay mượn từ sân khấu.
Rouch đã đề xuất một “phương pháp mới” cho việc nghiên cứu Nhân học bao gồm việc “chia sẻ” các mô hình và công cụ với “những người mà trước đây chỉ được coi là đối tượng nghiên cứu”. Với tinh thần này, tôi kiến nghị rằng các nhà Nhân học Việt Nam nên chia sẻ hoạt động nghiên cứu việc làm phim với những chủ thể văn hóa mới của họ, những nhà làm phim Việt Nam, nhằm thúc đẩy các câu chuyện, các thể chế và hành nghề, những yếu tố sẽ xây dựng và duy trì nguồn vốn biểu tượng, bằng ứng tác, nếu có cần thiết, nhưng phải thông qua sự tham gia mang tính phản thân trong đời sống Việt Nam đương đại. Deleuze đề cập tới sự nổi lên năng động của sự tự-tác sáng tạo trong phim của Rouch như là “lực-vận-hành ẩn dụ, những hình ảnh tham dự vào chính quá trình đang hình thành”, nơi mà con người thực bất giác hư cấu hóa cuộc sống của mình theo cách họ mong muốn trong quá trình làm phim. Khuôn khổ ý niệm cho kiểu Nhân học tham dự như vậy có thể áp dụng đối với nhu cầu phát triển của môi trường truyền thông mới ở Việt Nam. Điều gì đang bị đe dọa nếu không phải là một sự di chuyển thực sự hướng đến một hệ thống những biểu tượng chức năng của Việt Nam dành cho thế hệ kế tiếp để tồn tại trong môi trường truyền thông mới? Khái niệm hư cấu dân tộc học của Rouch không phải được mọi người yêu thích; trong số những người chỉ trích Rouch có vị khổng lồ của điện ảnh Senegal, Ousmane Sembène. Dù vậy, ông ta vẫn đánh giá cao Rouch như là một nhà Nhân học và nhà làm phim chủng tộc, và sự phân biệt các công cụ sản xuất đã giúp mài giũa những ý tưởng của chính Sembène về nghệ thuật phim tự sự thông qua việc so sánh. Theo nghĩa đó, các phương pháp so sánh của các nhà Nhân học văn hóa có rất nhiều điều hữu ích cho các nhà làm phim có hoài bão ở Việt Nam khi họ thương thảo các cơ hội và nguy cơ của việc đồng sản xuất xuyên quốc gia.

Theo nghĩa đó, các phương pháp so sánh của các nhà Nhân học văn hóa có rất nhiều điều hữu ích cho các nhà làm phim có hoài bão ở Việt Nam khi họ thương thảo các cơ hội và nguy cơ của việc đồng sản xuất xuyên quốc gia.

Làm phim đòi hỏi các nguồn lực, vốn, không gian và thời gian; nó cũng đòi hỏi những cuộc thương lượng, luật pháp, ghi chép, và các thể chế. Việt Nam sẽ định hướng môi trường truyền thông mới như thế nào khi không có sự phân loại Nhân học tích cực cho văn hóa truyền thông hiện tại, nó đến từ đâu và có thể đi về đâu? Trường đại học London có một chương trình Thạc sĩ trong lĩnh vực Nhân học truyền thông tại Khoa Nghiên cứu Châu Phi và Phương Đông. Trên trang web của chương trình này chúng ta có thể biết được rằng:
Hầu hết các nghiên cứu truyền thông chỉ tập trung vào những nước nói tiếng Anh, rồi khái quát hóa các hoạt động văn hóa đặc thù. Chương trình này, trái lại, khởi đầu phát triển một phương pháp tiếp cận Nhân học khác hẳn đối với truyền thông, phương pháp xem xét truyền thông với tư cách là thực tiễn văn hóa và xã hội. Bằng thạc sĩ này nhằm nghiên cứu truyền thông ở châu Á và châu Phi cả về dân tộc học lẫn lý thuyết. Nó đặc biệt phù hợp với: Những sinh viên có bằng đại học về truyền thông hoặc văn hóa học; những sinh viên đã tốt nghiệp đại học trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn mong muốn mở rộng hiểu biết về truyền thông và văn hóa học với trọng tâm là Châu Á và Châu Phi; Những người có kinh nghiệm chuyên môn về điện ảnh, truyền hình, báo chí, quảng cáo hoặc các mối quan hệ công chúng (PR); Những sinh viên có trình độ đại học về Nhân học xã hội muốn theo đuổi các đề tài chuyên biệt liên quan đến truyền thông, có thể gắn với việc nghiên cứu dựa trên cơ sở ngôn ngữ hoặc vùng miền; Những sinh viên muốn nhận bằng cấp như là một khóa chuyển đổi trước khi theo học một chương trình cấp bằng nghiên cứu trong lĩnh vực Nhân học truyền thông.
Cộng đồng các nhà Nhân học Việt Nam có thể bắt đầu quá trình khảo sát này. Nó sẽ hỗ trợ nền văn hóa đồng sản xuất xuyên quốc gia bền vững ở Việt Nam nếu như nó chấp nhận một cái nhìn tương tự. Nhân học đóng vai trò quan trong giáo dục truyền thông khi giới trẻ Việt Nam phải ứng phó với một loạt những lựa chọn trong môi trường truyền thông mới. Nền văn hóa Việt Nam sẽ được mô tả và thay đổi như thế nào trong điều kiện mới này? Những nguồn đầu tư và học bổng do Việt Kiều cung cấp sẽ ảnh hưởng đến quan hệ đồng sản xuất và giáo dục truyền thông. Những gì có thể học hỏi và những lợi ích gì có thể thu được từ việc thúc đẩy giao lưu với cộng đồng di dân người Việt trên toàn thế giới? Liệu rằng Việt Nam có bị ngập lụt bởi tràn những nội dung nước ngoài trong những năm sắp tới? Hay nó sẽ phát triển và xuất khẩu sản phẩm truyền thông giống các nền kinh tế Châu Á khác như Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Singapo, Thái Lan và Ấn Độ? Đó là một vài vấn đề Nhân học đối với Việt Nam trong môi trường truyền thông mới của nền đồng-sản xuất xuyên quốc gia. Tôi hi vọng rằng điều này sẽ khơi dậy những cuộc thảo luận thiết thực giữa các nhà Nhân học. Giống như “nền kinh tế điện ảnh mới” của David Linde, “phương pháp mới” của Nhân học tham dự do Jean Rouch đưa ra thúc đẩy sự tổng hợp và hội nhập sáng tạo. Tương tự như việc Ruby kêu gọi tự phê bình và cách tân, Bourdieu kiến nghị xã hội học phản thân, một ngành xã hội học xem xét những tác động do sự hiện diện của người nghiên cứu. Thông qua đánh giá tập thể và liên tục, ông tìm cách loại bỏ mọi sự bóp méo và thành kiến có thể làm thay đổi đối tượng nghiên cứu thành sự phản chiếu thiên kiến của người nghiên cứu. Văn hóa Việt Nam có thể thu được nhiều lợi ích từ sự thừa nhận rằng sản xuất truyền thông là một đối tượng nghiên cứu đáng giá của ngành Nhân học, rằng nhà Nhân học cũng có thể trở thành nhà làm phim.
Tài liệu tham khảo
Bogue, Ronald. Deleuze on Cinema (Deleuze bàn về điện ảnh). New York: Routeledge, 2003.
Bourdieu, Pierre. Language & Symbolic Power (Ngôn ngữ & Sức mạnh biểu tượng).Cambridge: Harvard, 1991.
Brooks, Brian. http://www.indiewire.com/buzz/070805.html#009271.
Denby, David. “Big Pictures (Bức tranh lớn).” The New Yorker. 8 January 2007: 54-63.
Hernandez, Eugene. http://www.indiewire.com/ots/2007/02/berlin_07_daily.html.
Johnson, Craig. http://der.org/jean-rouch/content/index.php.
Knegt, Peter. http://www.indiewire.com/biz/2007/05/cuaron_del_toro.html.
Pitchbeck, Daniel. “Out of Africa (Bên ngoài châu Phi).” Artforum International (Diễn đàn nghệ thuật quốc tế). 1 October 2000.
Ruby, Jay. http://astro.temple.edu/~ruby/ruby/.
Scott, A.O. “What is a Foreign Movie Now? (Hiện tại một bộ phim nước ngoài là gì?)” The New York Times. 14 November 2004.
Tella, James. http://cinema.usc.edu/about/news/global-picture.htm.
University of London. http://www.soas.ac.uk.
Nguồn : BLog nguyenmanhtien
Nguồn: http://tinvanonline.org/2007/11/13/nhan-loai-hoc-truyen-thong
Read more…

Nhân học y tế là gì?

17:55 |
Nhân học y học là một chuyên ngành trong nhân học. Tuy nhiên không có gì thực sự là khác biệt giữa nhân học y học và các nhóm nhân học khác. Sự khác biệt duy nhất là sự lựa chọn trọng tâm nghiên cứu. Mục đích của nhân học y học là tìm hiểu các cảm nhận của đối tượng nghiên cứu về thân thể, sức khoẻ và bệnh tật của họ cũng như các hành động của họ liên quan đến các vấn đề này. Các nhà nhân học y học không nhất thiết phải được đào tạo chuyên ngành y. Họ được đào tạo để biết cách áp dụng các khoa học xã hội vào việc giúp hiểu rõ hơn về các vấn đề sức khoẻ của mọi người cũng như về cách thức mọi người tiếp nhận và xử trí các vấn đề sức khoẻ của họ.

Các nghiên cứu về sức khoẻ sinh sản cũng quan tâm đến thân thể và các ảnh hưởng của tình dục và sinh sản lên thân thể và sức khoẻ. Do vậy, các nghiên cứu nhân học về sức khoẻ sinh sản có thể sử dụng các phương pháp và khái niệm của nhân học y học. Chương này sẽ giới thiệu một số khái niệm lý thuyết và khái niệm phân tích phổ biến nhất của nhân học y học nhằm giúp các nghiên cứu viên có thể đề cập được các vấn đề sức khoẻ cùng với bối cảnh xã hội và văn hoá. Trước hết, phần trình bày sẽ mô tả cách thức tiếp cận của những nhà nhân học y học trong việc tìm hiểu quan niệm của các đối tượng nghiên cứu về thân thể và sức khoẻ của họ. Phần tiếp theo sẽ trình bày về các phương pháp nghiên cứu hệ thống y tế trong nhân học. Đây là hai vấn đề chủ yếu trong hầu hết các nghiên cứu nhân học y tế và chính hai vấn đề này đã khơi mở chủ đề cho nghiên cứu nhân học mà chúng tôi đã tiến hành ở huyện Quỳnh Lưu.


Cảm nhận về thân thể và sức khoẻ

Một vấn đề trọng tâm trong nghiên cứu nhân học y học là sự phân định giữa ốm đau và bệnh tật (Kleinman 1980). Khái niệm bệnh tật (disease) đề cập đến tình trạng sức khoẻ dựa trên ý kiến của các nhà chuyên môn y với các lý giải mang tính khoa học và các đo lường khách quan. Theo quan điểm y học, khi có bệnh thì nguyên nhân chủ yếu là các rối loạn thể chất/sinh lý còn các yếu tố xã hội và tâm lý chỉ đóng vai trò thứ yếu. Ngược lại, khái niệm ốm đau (illness) đề cập đến quan điểm của bản thân người bệnh đối về sức khoẻ của họ. Theo quan điểm của người bệnh, ốm đau không phải chỉ là vấn đề sinh lý đơn thuần mà nó còn liên quan đến rất nhiều vấn đề khác như nghèo đói, làm việc quá sức, ảnh hưởng của các mối quan hệ xã hội hay ảnh hưởng của yếu tố tâm linh đến cuộc sống. Ví dụ như ở Việt Nam khi một đứa trẻ bỗng nhiên bị ốm nặng, gia đình của cháu có thể sẽ cho rằng đấy không chỉ là do tác động của vi khuẩn mà có thể còn là do sự nổi giận của ông bà, tổ tiên. Ngày nay nhiều nghiên cứu viên nói rằng không thể phân biệt được rõ ràng giữa ốm đau và bệnh tật vì các bệnh lý thực thể cũng bị ảnh hưởng bởi cuộc sống văn hoá và xã hội (ví dụ xem Kleinman 1995). Tuy nhiên, một lần nữa các nhà nghiên cứu cần phải nhớ rằng điểm quan trọng trong nghiên cứu nhân học chính là sự phân biệt giữa quan điểm của người trong cuộc (cảm nhận về sự ốm đau) và việc đo lường các rối loạn thể chất của người ngoài cuộc (bệnh tật). Nhân học nghiên cứu các cảm nhận của đối tượng về ốm đau vì các cảm nhận này sẽ giúp các nhà nghiên cứu hiểu thêm các yếu tố bối cảnh trong cuộc sống của họ (xem thêm Castle 1994).
Trên thực tế, mỗi người cảm nhận sự ốm đau theo một cách khác nhau nên người ta cũng gọi các vấn đề gặp phải khi đau ốm theo những cách khác nhau. Các thuật ngữ chỉ sự ốm đau ở một ngôn ngữ này thường không thể được dịch trực tiếp ra một ngôn ngữ khác. Hay một thuật ngữ được sử dụng trong một hệ thống y học (ví dụ như Tây y) không có sự phiên giải trực tiếp trong một hệ thống y học khác (ví dụ như Đông y). Đôi khi người ta chẩn đoán được bệnh theo tác nhân gây bệnh. Điều này thường gặp trong Tây y (ví dụ: vi khuẩn gây nên bệnh lao). Ở miền đông Uganda, người ta sử dụng các thuật ngữ ốm đau khác nhau để miêu tả mức độ nặng của bệnh. Sốt, ỉa chảy, phát ban và các triệu chứng khác đều có thể được gọi là “koyo” nếu người đó thực sự ốm rất nặng và được gọi là “musujja” nếu tình trạng bệnh không đe doạ tính mạng (xem Mogensen 2000). Đôi khi, giống như trong trường hợp “bệnh phụ nữ” (bệnh phụ khoa) ở Việt Nam, tên của bệnh có liên quan đến các quan niệm mang tính xã hội và văn hoá về giới và trách nhiệm hơn là theo nguyên nhân hay các triệu chứng của các bệnh nằm trong nhóm “bệnh phụ nữ”. Bệnh phụ nữ được dùng để chỉ tất cả các loại viêm nhiễm đường sinh sản, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và các vấn đề phụ khoa khác mà không có sự phân biệt rõ ràng giữa các bệnh này và do vậy nó làm che lấp một thực tế là một số bệnh trong nhóm “bệnh phụ nữ” có thể thuộc trách nhiệm của nam giới. Các thuật ngữ có thể hàm chứa rất nhiều thông tin về các giá trị văn hoá và xã hội và do vậy nghiên cứu cẩn thận về ý nghĩa chính xác của từng thuật ngữ là việc làm cần thiết. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng cần tìm hiểu sự tương đồng hay không tương đồng giữa các thuật ngữ này với các chẩn đoán Tây y – chứ không chỉ đơn giản là phiên giải các thuật ngữ này sang các bệnh mà người nghiên cứu cho là đối tượng nghiên cứu đang đề cập đến.
Các cảm nhận về ốm đau thường bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố chứ không chỉ bao gồm những gì liên quan đến thể chất và sinh lý. Như Arthur Kleinman đã nói, ốm đau giống như một miếng bọt biển, nó hấp thụ các vấn đề khác nhau trong cuộc sống của một con người. Đôi khi các triệu chứng thực thể lại chính là cách để một người thể hiện ra bên ngoài là có một điều gì đó không ổn không chỉ trong cơ thể họ mà còn cả trong cuộc sống của họ. Một nhiệm vụ quan trọng đối với nhà nhân học là tìm hiểu ý nghĩa của những điều mà đối tượng nghiên cứu đã nói - thông qua các từ ngữ và hành động của họ. Nhà nhân học Mark Nichter (1981) đã đặt ra thuật ngữ “ngôn ngữ của sự đau khổ” (idiom of distress) để các nhà nghiên cứu luôn nhớ đến một thực tế là các triệu chứng thực thể có thể là một phương tiện giao tiếp. Ví dụ, khi những người phụ nữ nông thôn Việt Nam phàn nàn về “bệnh phụ nữ”(bệnh phụ khoa), họ không chỉ nói với các nhà nghiên cứu về các khó chịu như ngứa và khí hư mà họ phải chịu đựng hàng ngày. Nếu lắng nghe kĩ hơn, các nhà nghiên cứu sẽ thấy rằng họ còn nói với chúng ta về sự nghèo túng: họ phải làm việc trong nước bùn trong nhiều giờ và không bao giờ có thời gian để chăm sóc cho thân thể và sức khoẻ của bản thân. Các nhà nghiên cứu cũng có thể thấy các vấn đề liên quan đến bình đẳng giới khi những người phụ nữ nói về việc không thể nói “không” khi chồng có muốn quan hệ tình dục, về mối nghi ngờ của họ đối với sự chung thuỷ của chồng khi chồng đi làm xa. Nói một cách khác, bằng cách lắng nghe các câu chuyện của đối tượng nghiên cứu về các vấn đề sức khoẻ và các nguyên nhân gây nên các vấn đề này, các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu được rất nhiều – không chỉ về thân thể của đối tượng nghiên cứu mà còn về cuộc sống thường nhật của họ và nỗi khó nhọc của họ để đảm bảo một cuộc sống tằn tiện.
Những người trong cuộc và người ngoài cuộc thường có quan điểm không giống nhau. Do vậy, luôn có sự không nhất quán giữa quan niệm của nhân viên y tế và của bệnh nhân về cùng một vấn đề sức khoẻ. Theo Arthur Kleinman (1980), mỗi nhóm có thể áp dụng các mô hình lý giải (explanatory model) khác nhau để lí giải và điều trị bệnh tật. Các mô hình lý giải đưa ra các giải thích về vấn đề sức khoẻ và hướng điều trị. Có thể lấy việc sử dụng vòng tránh thai ở Việt Nam là một ví dụ. Theo quan điểm của nhân viên y tế, vòng đơn giản là một biện pháp tránh thai hiệu quả và an toàn. Tuy nhiên, từ quan điểm của người sử dụng, vòng lại được xem như một “vật lạ” có thể gây ra rất nhiều vấn đề sức khoẻ như yếu mệt, chóng mặt, rối loạn kinh nguyệt (Gammeltoft 1999). Nói một cách khác, nhân viên y tế và người sử dụng vòng có những mô hình lý giải khác nhau khi hiểu về tác động của vòng lên cơ thể con người. Trong chương 4 chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn về các cảm nhận và xử trí của người dân huyện Quỳnh Lưu đối với các vấn đề sức khoẻ thường gặp.
Hệ thống chăm sóc sức khoẻ từ quan điểm của nhân học

Giống như những thứ khác, hệ thống y tế cũng bị qui định bởi xã hội. Do vậy, trên thế giới có rất nhiều hệ thống y tế khác nhau. Ở nhiều khu vực trên thế giới, người ta có xu hướng nghĩ rằng y học chỉ bao gồm nền y học “Phương Tây”. Tuy nhiên ở Việt Nam việc tồn tại song song nhiều nền y học khác nhau đã có một lịch sử lâu đời. Các nghiên cứu nhân học quan tâm đến tất cả các loại dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sẵn có cho con người. Thuật ngữ trong nhân học y học được dùng để chỉ việc cùng tồn tại song song nhiều nền y học là đa nguyên y học (medical pluralism) (Foster 1976). Đa nguyên y học thể hiện việc có nhiều lựa chọn về chăm sóc sức khoẻ khác nhau sẵn có cho mọi người. Mặt khác, đa nguyên y học cũng có nghĩa là các vấn đề sức khoẻ có thể được hiểu và điều trị theo nhiều cách khác nhau.
Nhà nhân học Arthur Kleinman (1980) đã giới thiệu mô hình khu vực (sector model) như là một công cụ để tìm hiểu về các hoạt động của hệ thống y tế. Ông gợi ý việc nghiên cứu hệ thống y tế phải xem xét 3 khu vực khác nhau: khu vực chuyên môn (professional sector), khu vực truyền thống dân gian (folk sector) và khu vực phổ thông đại chúng (popular sector). Mỗi khu vực này sẽ có cách giải thích và điều trị các vấn đề sức khoẻ theo cách khác nhau. Khu vực chuyên môn bao gồm các chuyên gia y học. Khu vực này được tổ chức một cách chính thống và được công nhận về pháp luật. Ở Việt Nam, khu vực chuyên môn bao gồm cả những người hành nghề Tây y và Đông y. Hai nhóm này đều được chuyên nghiệp hoá. Chỉ những người được đào tạo đầy đủ theo yêu cầu và trực thuộc một tổ chức nào đó mới được phép hành nghề. Khu vực dân gian bao gồm các thầy lang, thầy cúng, pháp sư và các bà mụ vườn. Những thầy lang này không thuộc hệ thống y tế chính thống. Các cách chữa bệnh của họ có thể là mang tính chất thần bí hoặc dân dã hoặc là phối hợp cả hai cách này. Ở Việt Nam, những người hành nghề trong khu vực truyền thống dân gian bao gồm thầy cúng, thầy bói, thầy lang và bà đỡ. Cuối cùng, khu vực phổ thông đại chúng là khu vực của người dân, những người không có chuyên môn. Khu vực này chiếm phần lớn nhất trong bất kì hệ thống chăm sóc sức khoẻ nào. Đây chính là khu vực diễn ra hầu hết các hoạt động chăm sóc sức khoẻ. Người ốm thường được phát hiện và nhận được các chăm sóc đầu tiên cũng thường là tại khu vực này. Khu vực phổ thông cũng bao gồm cả hoạt động tự chăm sóc sức khoẻ. Trong bối cảnh sức khoẻ sinh sản ở Việt Nam, các ví dụ về việc thực hành y tế trong khu vực này bao gồm kiêng cữ khi mang thai và sau đẻ, tắm lá, rửa nước muối để điều trị các viêm nhiễm đường sinh sản, hoặc sử dụng thuốc Tây y mua từ những người bán thuốc. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cần lưu ý là các khu vực khác nhau trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ cũng có phần chồng chéo nhau (xem hình 3).
Hình 3


Đôi khi khó mà xác định được một hành vi chăm sóc y tế là thuộc khu vực y học nào. Ví dụ, ở Việt Nam, các loại thảo mộc đôi khi cũng được sử dụng trong các phương pháp điều trị mang tính thần bí. Do vậy khó mà nói được điều trị bằng thảo mộc là thuộc khu vực chuyên môn “Đông y” hay là thuộc khu vực dân gian. Hơn nữa, các hành vi chăm sóc sức khỏe được phát triển trong một khu vực có thể cũng sẽ được sử dụng ở một khu vực khác. Ví dụ như các nữ hộ sinh được đào tạo Tây y vẫn sử dụng châm cứu trong công việc của họ. Mô hình khu vực của Kleinman rất có ích không phải vì chúng ta có thể xếp tất cả mọi người và mọi thứ vào một khu vực nào đó mà vì mô hình này giúp chúng ta thấy rõ hơn các sự đa dạng cũng như sự chồng chéo giữa các khu vực.
Trong tất cả các xã hội, bao giờ một số nền y học cũng có quyền lực và uy tín hơn các nền y học khác. Thông thường, nền y học hiện đại là hệ thống chiếm ưu thế còn các loại hình chăm sóc y tế khác ít được thừa nhận một cách chính thức. Ở Việt Nam, khu vực chuyên môn là khu vực được coi trọng cao nhất cả về mặt xã hội và chính trị. Khu vực chuyên môn được thừa nhận là “khoa học” và được coi là đại diện cho hệ thống chăm sóc sức khoẻ thống nhất của quốc gia. Do vậy, khu vực này cũng là khu vực mà chúng ta có nhiều kiến thức dựa trên nghiên cứu nhất. Ngược lại, các thực hành chăm sóc thuộc khu vực dân gian thường bị xem thường và đơn giản bị coi là “mê tín”. Tuy nhiên, trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản, khu vực dân gian vẫn đóng một vai trò quan trọng đặc biệt là điều trị vô sinh. Kiến thức và thực hành chăm sóc trong khu vực phổ thông đại chúng là cực kì phong phú và đa dạng. Người dân thường tự xử trí nhiều vấn đề sức khoẻ sinh sản “nhỏ” hàng ngày, như các biểu hiện của các viêm nhiễm đường sinh sản, tác dụng phụ của các biện pháp tránh thai hay các vấn đề trong quan hệ tình dục. Tuy nhiên, cho đến nay có rất ít nghiên cứu xem xét các thực hành chăm sóc sức khoẻ sinh sản hàng ngày ở khu vực phổ thông đại chúng. Người ta có thể có nhiều lý do để tìm hiểu và phân tích sự khác biệt của các khu vực chăm sóc sức khoẻ khác nhau. Đối với nhà nhân học, nội dung của từng khu vực không phải là cái cần quan tâm mà chính là việc người dân sử dụng và chuyển dịch giữa các khu vực này như thế nào. Các nhà nhân học cũng cần phải tìm hiểu mối quan hệ tương tác giữa nhân viên y tế và bệnh nhân cũng như các hành vi chăm sóc sức khoẻ (Janzen 1978).
Các thực hành chăm sóc sức khoẻ hay các hành vi chăm sóc sức khoẻ (health seeking practices) là một trong các chủ đề được nghiên cứu nhiều nhất trong nhân học y học. Vì các lựa chọn về liệu pháp điều trị rất đa dạng và sẵn có, những người có nhu cầu có thể tìm kiếm và chọn lựa các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ theo nhiều cách khác nhau. Những người ốm trên thế giới đều giống nhau. Họ thường rất linh hoạt và thực tế. Họ sẽ thử vài loại hình điều trị khác nhau như một câu tục ngữ của Việt Nam nói "có bệnh thì vái tứ phương". Hầu hết mọi người đều bắt đầu với việc tự điều trị tại nhà. Sau đó họ mới tìm kiếm sự giúp đỡ từ hàng xóm, người bán thuốc hoặc các nhà chuyên môn (xem Kleinman 1980). Trong nghiên cứu về các hành vi chăm sóc sức khoẻ, nhân học chú ý đến việc tìm ra các yếu tố làm ảnh hưởng tới quyết định của người bệnh khi lựa chọn một loại hình dịch vụ cụ thể. Đó có phải là do khả năng tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giá thành hay là vấn đề chất lượng dịch vụ chăm sóc? Đó có phải là do cách mà nhân viên y tế chào hỏi và tiếp đón khách hàng? Hay đó là do cách nhân viên y tế giải thích về các nguyên nhân của bệnh cho khách hàng? Ở Việt Nam, tỷ lệ sử dụng đối với nhiều loại dịch vụ là khá thấp. Ví dụ, nhiều phụ nữ thích đẻ ở nhà mặc dù đã được nhân viên y tế và cán bộ địa phương vận động về việc đẻ ở trạm y tế. Nhiều phụ nữ không đi khám thai trước đẻ hoặc khám dưới 3 lần. Nhiều phụ nữ cũng không muốn tham gia chương trình khám phụ khoa định kì. Để hiểu được vì sao người dân lại không sử dụng dịch vụ, các nhà nghiên cứu cần xem xét mối quan hệ của người dân với nhân viên y tế và với các thành viên khác trong gia đình và cộng đồng. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng cần phải tìm hiểu các quan niệm của người dân về thân thể và sức khoẻ (xem Craig 2002). Chương 5 sẽ trình bày việc sử dụng mô hình khu vực của Kleinman để xem xét một cách toàn diện các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản tại Quỳnh Lưu và phân tích hành vi chăm sóc sức khoẻ của người dân ở đây.
Các yếu tố bối cảnh của đau ốm và sức khoẻ

Với các nhà nhân học, cơ thể con người, sức khoẻ và đau ốm chỉ có thể hiểu được khi đặt trong bối cảnh cuộc sống hàng ngày của họ. Vấn đề quan trọng là làm thế nào để có thể biết được một cách chính xác các yếu tố bối cảnh cần xem xét là gì? Làm sao các nhà nghiên cứu có thể xác định được các yếu tố xã hội nào là phù hợp và các yếu tố nào là không phù hợp khi tìm hiểu về một vấn đề sức khoẻ? Một vấn đề mà nhà nhân học sẽ luôn quan tâm là các mối quan hệ xã hội (social relations). Con người là những thực thể mang tính xã hội sâu sắc: người ta chỉ có thể nhận ra sự tồn tại của một cá thể thông qua các mối quan hệ xã hội của cá thể đó. Do vậy, để hiểu bất kì một khía cạnh nào của cuộc sống, các nhà nghiên cứu cần phải xem xét các mối quan hệ và tương tác xã hội (social interaction) đã cấu thành cuộc sống. Trong lĩnh vực sức khoẻ sinh sản, các mối quan hệ và tương tác xã hội liên quan bao gồm các mối quan hệ trong gia đình, trong cộng đồng và các mối quan hệ giữa bệnh nhân và nhân viên y tế. Ví dụ, ở Việt Nam, để giải thích tại sao vẫn còn phụ nữ thích đẻ ở nhà với sự giúp đỡ của mẹ chồng hơn là đi đến trạm y tế, nhà nghiên cứu cần đặt ra các câu hỏi như: cô ấy có quan hệ như thế nào với nhân viên y tế? Cô ấy có cảm giác là nhân viên y tế không tôn trọng cô không? Có phải cô ấy nghĩ là tiền dịch vụ quá đắt không? Cô nghĩ gì về cơ thể và sự sinh nở? Có phải dường như đối với cô việc sinh nở mang tính chất là một sự kiện xã hội nhiều hơn là một sự kiện y tế? Các hỗ trợ xã hội cô nhận được trong cuộc sống hàng ngày là gì? Ai sẽ chăm sóc đứa con hai tuổi của cô ở nhà nếu cô đi đẻ ở trạm y tế? Cô nghe theo lời khuyên về chăm sóc thai và sinh nở của ai trong thời kì mang thai? Cô có thể tự quyết định nơi sinh không? Có phải trên thực tế không phải cô mà chính là chồng cô và bà mẹ chồng 60 tuổi của cô là người quyết định sinh đẻ ở đâu là tốt nhất cho cô? Theo hướng này, khái niệm sức khoẻ sinh sản được mở rộng ra khỏi phạm vi sức khoẻ và y học đơn thuần rất nhiều. Sức khoẻ sinh sản cũng là về gia đình và các mối quan hệ họ hàng, về giới, về quyền lực và sự kiểm soát.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu các yếu tố xã hội của ốm đau và sức khoẻ, các nhà nghiên cứu không chỉ quan tâm đến các mối quan hệ cá nhân mà còn phải biết xem xét các yếu tố ẩn chứa dưới các mối quan hệ này. Trên khắp thế giới, cuộc sống của con người bị ảnh hưởng bởi các điều kiện xã hội, kinh tế và chính trị. Do đó, bên cạnh việc xem xét các mối quan hệ và tương tác xã hội, nhân học y tế cũng xem xét các bối cảnh xã hội và kinh tế quy định cuộc sống con người. Nếu muốn hiểu vì sao các mối quan hệ xã hội lại được định hình theo cách mà chúng ta thấy, các nhà nghiên cứu phải hiểu được các vấn đề sâu sa ẩn chứa dưới các mối quan hệ và tương tác này và nhìn vào các điều kiện lịch sử cũng như hệ thống đã hình thành nên các mối tương tác này. Ví dụ, nghèo thường có tác động mạnh mẽ đến các hành vi chăm sóc sức khoẻ. Những người nghèo thường tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ nhưng lại thiếu tiếp cận tới các nguồn lực kinh tế. Đây có thể là nguyên nhân khiến những người nghèo không sử dụng một số dịch vụ y tế mà lẽ ra họ sẽ sử dụng nếu không nghèo. Một điều kiện mang tính hệ thống quan trọng khác là sự bất bình đẳng về giới: do địa vị xã hội thấp, phụ nữ sẽ khó thể hiện được tính chủ thể (agency) của mình trong các vấn đề liên quan đến tình dục và sức khoẻ sinh sản. Đây là vấn đề không phải chỉ ở Việt Nam mà ở khắp thế giới.
Trường hợp của nhân học

Các cảm nhận khi ốm đau, ngôn ngữ của sự đau khổ, chủ nghĩa đa nguyên y học, các khu vực chăm sóc y tế và hành vi chăm sóc sức khoẻ là một số khái niệm phân tích mà chúng tôi đã sử dụng để phát triển khung nghiên cứu ở Quỳnh Lưu (xem chương 3). Những khái niệm này cũng được sử dụng trong phân tích và do vậy cũng sẽ được thể hiện trong phần trình bày kết quả thực địa ở chương 4 và 5. Ngoài ra, quá trình thực địa và phân tích thông tin cũng liên quan tới một số khái niệm khác mà chúng tôi sẽ giới thiệu sau ở các phần này. Điều này đã minh hoạ cho quá trình chuyển động liên tục giữa các khái niệm phân tích và số liệu thực địa trong nghiên cứu nhân học.
Các khái niệm phân tích được trình bày ở đây không thể thể hiện một cách đầy đủ các vấn đề nghiên cứu trong nhân học y học. Các khái niệm này được lựa chọn cho khoá học và nghiên cứu nhỏ này vì chúng tôi thấy đây là những công cụ hữu hiệu giúp thu thập những thông tin nền ban đầu. Trong các nghiên cứu trong tương lai, các khái niệm phân tích khác có thể hữu ích hơn. Tuy nhiên, điều quan trọng mà các nhà nghiên cứu cần lưu ý là để có thể thực hiện được nghiên cứu nhân học, tức là tiến hành các so sánh để có được các phân tích và các hiểu biết mang tính nhân học, nhà nghiên cứu phải lựa chọn một khung lý thuyết và các khái niệm phân tích phù hợp. Đây chính là bước đầu tiên giúp định hình các câu hỏi của nghiên cứu và các thông tin thu được trên thực địa. Vì đặc thù của nghiên cứu nhân học là cách tiếp cận mở, nên chúng ta sẽ phải liên tục điều chỉnh khung lý thuyết cho phù hợp với các phát hiện trên thực địa (xem chương 3).


(Trích dẫn từ http://reach.gopfp.gov.vn/Vietnam/Publication%20V5.htm bởi Nhân học y tế)
Nguồn: blog Ho Ngoc Tri
Read more…

Tài liệu môn Nhân Học đại cương

15:42 |
Giáo trình Nhân học đại cương được tập thể giảng viên của Khoa Nhân học biên soạn từ năm 2003 đến năm 2005. Đây là tập giáo trình Nhân học đầu tiên được biên soạn và giảng dạy chính thức cho sinh viên Khoa Nhân học Trường Đại học KHXH&NV TP. Hồ Chí Minh.

Tài liệu Power Point môn Nhân Học Đại Cương:
Tài liệu tại đây



Nội dung của giáo trình Nhân học đại cương gồm 10 chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung của nhân học. Chương này giới thiệu khái quá về lịch sử hình thành và phát triển ngành nhân học, các chuyên ngành của nhân học, đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của nhân học.
- Chương 2: Nguồn gốc và sự tiến hóa của loài người về mặt sinh học và văn hóa. Chương này đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của con người; trình bày đặc điểm của con người từ khi còn là vượn người đến con người hiện đại; ngoài ra còn trình bày các chủng tộc và các tiểu chủng của con người trên thế giới.
- Chương 3: Tộc người và quá trình tộc người. Nội dung của chương này trình bày các quan điểm về tộc người, các tiêu chí để xác định thành phần tộc người và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tộc người.
- Chương 4: Văn hóa. Nội dung của chương này trình bày quan điểm về văn hóa dưới góc nhìn của nhân học.
- Chương 5: Tôn giáo. Nội dung của chương này cũng trình bày quan điểm của nhân học về tôn giáo; qua đó phân tích yếu tố văn hóa tộc người tác động đến sự đa dạng của tôn giáo.
- Chương 6: Ngôn ngữ. Nội dung trình bày về các loại hình ngôn ngữ, việc sử dụng ngôn ngữ khác nhau giữa các tộc người, giữa các nền văn hóa, giữa các xã hội...
- Chương 7: Kinh tế. Nội dung trình bày về các phương thức mưu sinh của con người trên thế giới, hệ thống kinh tế thế giới và đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố môi trường, văn hóa chi phối đến các hoạt động mưu sinh của con người.
- Chương 8: Thân tộc - hôn nhân - Gia đình. Nội dung của chương này trình về các hệ thống thân tộc; các loại hình hôn nhân và gia đình của các tộc người trên thế giới.
- Chương 9: Các hiệp hội và phân tầng xã hội. Nội dung trình bày về các tổ chức và các hiệp hội trong xã hội tộc người; nêu rõ sự chi phối của phong tục tập quán ở mỗi tộc người mà hình thành nên các hiệp hội và tổ chức xã hội khác nhau. Ngoài ra, nội dung chương này còn đề cập đến sự phân tầng xã hội của các tộc người, nguyên nhân là do sự phát triển của xã hội loài người.
- Chương 10: Nhân học ứng dụng. Đây là một phân ngành mới trong Nhân học, nên nội dung của chương này đề cập đến lịch sử hình thành và phát triển của Nhân học ứng dụng, các phân ngành nhỏ của nhân học ứng dụng hiện nay trên thế giới.
Đây là quyển giáo trình chính thức được giảng dạy cho sinh viên nhân học và sinh viên của các khoa trong trường Đại học KHXH&NV TP.HCM kể từ năm 2003, khi nó còn là một bản thảo. Hiện nay, quyển giáo trình này được Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP.HCM in, dự kiến đến tháng 8 năm 2008 sẽ phát hành rộng rãi đến bạn đọc.
Read more…

Sự quan trọng của câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu trong Nhân Học

13:35 |
Câu hỏi nghiên cứu là gì ?
* Câu hỏi nghiên cứu ( Research question)
 Câu hỏi nghiên cứu là là câu hỏi được đưa ra và trả lời bằng kết quả nghiên cứu. Câu hỏi nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng đề án nghiên cứu. Nó góp phần định hướng cho quá trình nghiên cứu về nội dung, cũng như phương pháp thực hiện, giới hạn đối tượng và phạm vi tác giả muốn nghiên cứu.


 * Cách thức để xây dựng được câu hỏi nghiên cứu tốt: 
 * Xác định vấn đề bạn quan tâm. Một câu hỏi nghiên cứu tốt là câu hỏi đặt ra vấn đề nhà nghiên cứu quan tâm, yêu thích và muốn giả quyết nó trong quá trình nghiên cứu của mình.
 * Tìm cách đóng khung nghiên cứu qua những khảo sát về địa điểm, đối tượng nghiên cứu. Sau đó tập hợp tất cả những khảo sát đề hình thành nên câu hỏi nghiên cứu.
 * Một câu hỏi nghiên cứu tốt nên là:
 * -Gợi lên nhiều liên tưởng, kích thích sự sáng tạo
 * - Đi kịp với vấn đề thời đại, có thể là kết tinh của các lí thuyết xã hội đương thời.
 * - Câu hỏi có hai vế đối trọng mang tính chất nghịch lí ( Vd: Vì sao tiền đầu tư vào y tế giáo dục ngày càng tăng mà chất lượng không được cải thiện? ...
 * - Câu hỏi đặt ra một cách tiếp cận mới khác biệt cho một vấn đề cũ .
 * - Câu hỏi nghiên cứu đặt ra vấn đề thật sự khó khăn trong tình thế hiện tại nhưng nếu những kết quả nghiên cứu có khả năng lấp đầy và giải quyết những khó khăn đó thì nhà nghiên cứu sẽ thu được sự hỗ trợ rất lớn và tầm quan trọng của nghiên cứu đối với cộng đồng lớn.
 * - Câu hỏi nghiên cứu mang tính gợi mở và có thể kết nối được. Ngay cả khi viêc bạn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở đối tượng nhỏ hẹp nhưng những câu hỏi nghiên cứu gợi mở và kết nối được với những vấn đề khác cùng liên quan sẽ làm cho nghiên cứu của bạn có chiều sâu và độ rộng đáng kể.
 * Câu hỏi nghiên cứu cần rõ ràng, đảm bảo không có những từ ngữ gây khó hiểu hay hiểu nhiều ý.
 * Câu hỏi phù hợp gần gũi và có thể giả quyết trong nghiên cứu
 * Hạn chế số lượng biến trong 1 câu hỏi nghiên cứu ( 1:1). Nghĩa là trong quá trình nghiên cứu thì nhà nghiên cứu có thể đặt nhiều câu hỏi nhưng mỗi câu hỏi nghiên cứu nên hỏi vào 1 vấn đề không nên kết hợp nhiều vấn đề trong 1 câu hỏi.
 * Xem xét câu hỏi nghiên cứu có khả thi hay không? Liệu với câu hỏi nghiên cứu như trên vấn đề có được giải quyết trong nghiên cứu? Làm thế nào đề tài sẽ được thực hiện? Là đề tài có khả năng phê duyệt ....

Giả thuyết nghiên cứu là gì? 
 Giả thuyết nghiên cứu là 1 phát biểu về mối liên hệ giữa các biến (biến độc lập và phụ thuộc) (mối liên hệ nhân – quả), nhà khoa học sẽ đi kiểm định giả thuyết này qua quá trình nghiên cứu. Giả thuyết nghiên cứu là câu trả lời giả định cho câu hỏi nghiên cứu
 Đặc tính của giả thuyết nghiên cứu: 
 * Giả thuyết phải theo một nguyên lý chung và không thay trong suốt quá trình nghiên cứu.
 * Giả thuyết phải phù hợp với điều kiện thực tế và cơ sở lý thuyết.
 * Giả thuyết càng đơn giản càng tốt.
 * Giả thuyết có thể được kiểm nghiệm và mang tính khả thi.
 Các yêu cầu của giả thuyết tốt: 
 * Phải có tham khảo tài liệu, thu thập thông tin.
 * Phải có mối quan hệ nhân - quả.
 * Có thể thực nghiệm để thu thập số liệu Lợi ích của việc đưa ra giả thuyết nghiên cứu
 * Buộc ta phải suy nghĩ kĩ về kết quả có thể có của nghiên cứu.
 * Giúp ta hiểu kĩ câu hỏi nghiên cứu và các biến có liên quan
 * Giả thuyết nghiên cứu với mối quan hệ nhân – quả tiên đoán kết quả nghiên cứu, định hướng cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu
 * Giả thuyết nghiên cứu có hướng đi đúng đống động cơ tiếp cận mục tiêu
 Hạn chế của việc đưa ra giả thuyết:
 * Quá mong muốn khẳng định giả thuyết, do đó người nghiên cứu nếu không có cái nhìn khách quan thì dễ đưa cuộc nghiên cứu đi theo một hướng để nhằm khẳng định giả thuyết đặt ra.
 * Việc đưa ra các giả thuyết nghiên cứu sẽ dễ dàng khiên người nghiên cứu bỏ qua các hiện tượng khác cùng đồng thời xảy ra trong quá trình nghiên cứu. Điều này sẽ ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu
 Tài liệu tham khảo:
 - Research Question (© 2001 Regents of the University of California)
 - Một số bài viết tham khảo tại các website :
http://www.vocw.edu.vn/content/m10152/
 http://www.nistpass.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=75&Itemid=51
Quốc Việt
Nhân học 07
Read more…

Những khó khăn và thuận lợi khi học định lượng.

13:05 |
Khi tiếp cận một môn học thì chúng ta sẽ có những thuận lợi cũng như khó khăn khi học môn học đó. Mỗi môn học đều có những khó khăn riêng cũng như thuận lợi của nó, bất cứ cái gì cũng có hai mặt cả.
Khi học môn phương pháp xử liệu dữ liệu bằng định lượng thì chúng ta có rất nhiều thuận lợi cũng như những khó khăn riêng mà nhóm nói riêng và tất cả các bạn nói chung đều gặp phải. Sau đây là quan điểm và nhìn nhận của nhóm về nhưng thuận lợi và khó khăn khi tiếp cận một phương pháp nghiên cứu này. Và vì đây là ý kiến của một nhóm nhỏ cho nên có những gì chưa thỏa mãn với mọi người thì cho câu hỏi và đóng góp cho nhóm. Mỗi người sẽ có những khó khăn riêng của mình nhóm mong nhận được ý kiến đóng góp của tất cả các bạn và của thầy.


+) Những thuận lợi.
 - Đây là một phương pháp nghiên cứu khá phổ biến trong khoa học xã hội nên các thầy cô giảng dạy trong lĩnh vực này rất có kinh nghiệm trong việc truyền thụ môn học cho sinh viên. Tạo điều kiện cho sinh viên phát huy những hiểu biết của mình, và sẳn sàng giúp đỡ khi một ai đó chưa hiểu, mặc dù cách truyền thụ môn học của thầy và cô có khác nhưng vấn đề là cách tiêp cận bài học của mỗi bạn có nắm bắt được vấn đề hay không.
 - Môn học cơ bản cho môn học này là môn thống kê xã hội chúng ta đã được học vào năm nhất đây chính là nền tảng cơ bản cho môn phương pháp xử lí dữ liệu định tính này, và ai là người nắm vững những kiến thức nền này thì chúng ta sẽ học môn này khá nhanh, và thuận lợi trong việc nắm bắt bài học.
- Môn học có đầy đủ hai phần là lí thuyết và thực hành nên chúng ta có thể hiểu môn học một cách cụ thể và rõ ràng. Sau khi nắm vững kiến thức lý thuyết sẽ giúp cho các bạn tiệp cận với thực hành dể dàng hơn. - Môn học này do có phần thực hành trên máy vi tính nên đa phần thì về phương diện vất chất kĩ thuật đã được đáp ứng hầu hết cho sinh viên.
 - Môn này do là một môn học khá là quan trong nên nó có thời gian giảng dạy khá nhiều nên chúng ta có thể có thời gian tìm hiểu kĩ càng về môn này. Và cũng có thời gian để thao tác các thao tác trong xử lý dữ liệu SPSS. Phần mềm SPSS có sẳn thuận lợi cho các bạn về nhà tự thao tác.
- Sau khi nắm vững kiến thức về lý thuyết sẽ rất giúp chúng ta áp dụng lý thuyết của môn học trong nghiên cứu, như nắm vững về: câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, lý thuyết, thực tế..., nói chung là môn học này cung cấp những kiến thức bổ ích cho công việc nghiên cứu.
 - Phần mềm SPSS giúp chúng ta xử lý các số liệu, dữ liệu thu thập được một cách nhanh chóng và chính xác, ít tốn nhiều thời gian để thao tác bằng tay, đặc biệt thuận lợi trong việc xử lý các bảng hỏi nhiều. - Sau khi học xong môn này nó quay ngược lại cung cố kiến thức về các môn học như: thống kê xã hội, lịch sử lý thuyết nhân học, và cơ bản nâng cao các kỹ năng tin học, các thao tác xử lý trên áy tính nhanh nhạy hơn.


+) Khó khăn.
 Thông thường thì khi mà có thuận lợi thì chúng ta cũng có những khó khăn nhất định khi học môn này như: - Tài liệu môn này còn ít môn này chưa có một cuốn sách nào viết đầy đủ và chi tiết về phần thực hành cũng như phần lí thuyết.. Mà hầu như đa số đều dịch ra từ Tiếng Anh nên rất khó hiểu.
- Phần mềm thực hành đa số các từ viết bằng tiếng anh nên cũng gây khó khăn cho một số bạn kiến thức về tiếng anh còn kém, nhiều lúc phải tra từ điển để hiểu nghĩa của từ.
 - Đây là một môn thực hành trên máy vi tính nên khi học môn này yêu cầu cần phải có kĩ năng về vi tính. Đa số sinh viên hiện giờ còn gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận phương pháp nghiên cứu này vì kĩ năng về vi tính cũng như về internet còn hạn chề.
- Thời gian dành cho môn học này khá nhiều và mất nhiều thời gian. Trong một tuần phải có tới hai buổi để học môn này. một buổi học lí thuyết và một buổi thực hành. Khi về nhà thì phải thực hành lại môn này rất nhiều lần thì mới có thể thuộc bài. Không những vậy lại còn phải lên mạng đọc bài và để lại nhận xét của mình điều này rất nhiều thời gian và tiền bạc. Và nó rất khó khăn khi mà các bạn sinh viên đa số là không có mạng về nơi ở nên cũng gặn những khó khăn nhất định.
 - Môn học này khá nhiều tín chỉ là 4 chỉ nên việc học môn này mang lại nhiều áp lực cho sinh viên. Môn học nói chung khó nên làm cho nhiều bạn lo sợ ảnh hưởng đến việc học nhiều, tâm lý nói chung là sợ rớt và sợ học lại.
-Tuy nó có kiến thức nền là môn thống kê xã hội tuy nhiên nó đã khá lâu nên phần đa sinh viên đã không nhớ lại được những kiến thức nền cơ bản này, từ đây thì nó sẽ trở thành những khái niệm mơ hồ và sinh viên dễ nhầm đi hướng đi của sinh viên vì sinh viên khi thực hiện như vậy nhưng đó sẽ như là một cỗ máy chứ không hề biết được ý nghĩa những thao tác mà mình đang thực hiện.
- Kiến thức của môn này khá rộng đặc nhất là các khái niệm đặc biệt là các khái niệm cơ bản. Nhiều bạn còn chưa nắm vững được lý thuyết thì sẽ rất khó khi bước vào thực hành.
- Só lượng kiến thức trong một buổi học nhiều nên khó nắm bắt được hết, mặc dù số tiết thì nhiều nhưng kiến thức lại nhiều gấp mấy nên không thể tiếp thu được hết khi học xong môn học này.
- Môn học này đòi hỏi tư duy toán học cao nên rất khó đối với khối ngành khoa học xã hội chúng ta, vì từ lâu chúng ta đã quen với tu duy xã hội, vì thế dù môn học có dể cũng gây khó khăn chung cho tất cả các bạn. ==> Nói chung thì cái gì cũng có hai mặt của nó, chủ yếu là ở ta phải biết cách khai thác cái mặt thuận lợi và hạn chế những mặt khó khăn. Chắc chắn bàn làm của nhóm chỉ theo ý kiến của riêng nhóm nên sẽ có nhiều thiếu sót, mong được sự đóng góp ý kiến và chia sẻ của tất cả các bạn.
Read more…

Phương pháp làm việc của nhà nghiên cứu định lượng

12:58 |
Khi nói về phương pháp làm việc của nhà nghiên cứu định lượng, chúng tôi xoay quanh 3 vấn đề sau để tìm hiểu và làm rõ phương pháp nghiên cứu của 1 nhà nghiên cứu định lượng: nguyên tắc, phẩm chất và quy trình nghiên cứu. 
Nguyên tắc của nhà nghiên cứu định lượng: 
Nguyên tắc nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội nói chung và các nhà nghiên cứu định lượng nói riêng là rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình và kết quả nghiên cứu, đó là sự lồng ghép, tương hỗ giữa nguyên tắc chuyên môn và nguyên tắc đạo đức, hai nguyên tắc này không tách bạch rõ ràng mà xuất hiện song song cùng nhau trong từng hành động.
Nhà nghiên cứu định lượng phải luôn đặt mình trong tâm thế người được phỏng vấn để bao quát hết các câu trả lời

Tức là ở đây, vấn đề phẩm chất của nhà nghiên cứu định lượng cũng được lồng ghép vào với nguyên tắc làm việc của họ - nguyên tắc đạo đức.
Theo đó, chúng tôi đã tìm hiểu được những nguyên tắc và phẩm chất của 1 nhà nghiên cứu định lượng như sau:
 • Nhà nghiên cứu định lượng phải luôn đặt mình trong tâm thế người được phỏng vấn để bao quát hết các câu trả lời (khi thiết kế bản hỏi định lượng).
• Nhà nghiên cứu phải luôn đặt đạo đức lên hàng đầu, họ không được phép áp đặt những ý kiến chủ quan của mình cho người trả lời, không được tự ý điền hay sữa các câu trả lời trong bảng hỏi.
 • Nhà nghiên cứu phải tuyệt đối bảo mật những thông tin về người trả lời, tránh trường hợp mang đến cho người trả lời những phiền phức trong cuộc sống thường ngày.
• Nhà nghiên cứu phải luôn cưỡng lại những điều cám dỗ muốn suy diễn về một vấn đề nào đó.
Phải trung thực và thẳng thắn trong phân tích các vấn đề. “để hoàn thành việc phân tích nội dung theo cách đề nghị ở đây, người nghiên cứu phải dùng nhiều biện pháp hầu tránh những khuyết điểm tiềm ẩn này trong phân tích. Trước hết, bất cứ khi nào một số trường hợp cho phép, những ví dụ minh họa cho một điểm nên được trích ra một cách ngẫu nhiên từ trong số những trường hợp có liên quan đã phân nhóm.
Thứ hai, mọi khẳng định đưa ra trong phân tích nên được chứng minh bằng trích dẫn với không ít hơn ba ví dụ.
Thứ ba, những giải thích mang tính phân tích nên được xem xét cẩn thận bởi một người đọc độc lập để bảo đảm rằng những điều khẳng định không phải xuất phát từ việc hiểu sai dữ liệu và rằng chúng được trích dẫn một cách thích hợp. Cuối cùng, bất cứ khi nào có những sự không nhất quán trong các dạng thức xuất hiện, những thứ này cũng nên được thảo luận để giải thích là liệu chúng nó có đã làm mất tính trung thực của những dạng thức tổng quát hay không. Không đề cập đến những sự bất nhất trong mỗi dạng thức là một sự trình bày thiếu thẳng thắn về dữ liệu và phân tích”.(trích “một số vấn đề lý thuyết và phương pháp nghiên cứu nhân học”).
• Nếu nhà nghiên cứu phát hiện ra các lỗi khi quá trình nghiên cứu kết thúc thì họ phải thay đổi việc giải thích kết quả nghiên cứu, họ phải chịu trách nhiệm với những nghiên cứu của mình, có nghĩa vụ phải kịp thời sửa chữa sai sót.
Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu định lượng còn phải tuân thủ cả những nguyên tắc sau khi tiến hành một công trình nghiên cứu:
+ Khách quan: 
Nhà nghiên cứu thường xuyên cố gắng cải tiến sự đo lường của mình (có nghĩa là làm cho nó chính xác hơn) và đưa ra các phát hiện của riêng mình cho người cùng nghề xem lại. Và phải dựa trên lý thuyết có sẵn để vận dụng lý thuyết đó làm nền tảng cho thực tiễn của mình.
 + Tin cậy: Không có khoa học nào là không có chuẩn mực giá trị. Những thứ thu hút nhà nghiên cứu như là điểm tập chung nghiên cứu sẽ đi cùng rủi ro của mình. Vì nghiên cứu định lượng là nghiên cứu dữ liệu số nên phải chính xác, nên kiểm tra lại nhiều lần để tránh những thiếu sót không đáng có.
+Quan sát kín đáo. 
+Phải kiên nhẫn và phải có thời gian:
 Nhà nghiên cứu định lượng khi đi nghiên cứu phải biết chấp nhận thử thách, không nên nản chí và phải có thời gian thì dữ liệu thu thập của mình mới càng chính xác.
+Học nhiều ngôn ngữ hoặc tiếng “Lóng”ở vùng nông thôn.
+Phải có lòng tin vào đáp viên thì công tác thu thập dữ liệu mới hiệu quả. Đáng lưu ý nhất là những sai số trong quá trình chọn mẫu, ví dụ người được hỏi trả lời không đúng các câu hỏi vì không nhớ hoặc do hiểu sai hoặc cố tình nói dối.

Hai vấn đề nghiêm trọng nhất của nhà nghiên cứu định lượng đó là:
- Sự phiên dịch lại về mặt văn hóa: xảy ra khi đối tượng phỏng vấn không hiểu câu hỏi đặt ra như ý định của nhà nghiên cứu mà lại hiểu khác đi và trả lời theo cách hiểu của họ. Khi nhà nghiên cứu dịch lại thì trở nên sai lệch, từ đó dữ liệu là không chính xác.
 - Những sai số ngữ cảnh là những yếu tố liên quan đến bản thân cuộc phỏng vấn. Phương pháp nghiên cứu định luợng giả định rằng hành vi và thái độ của con người không thay đổi theo ngữ cảnh. Tuy nhiên, câu trả lời của đối tượng có thể thay đổi phụ thuộc vào các ngữ cảnh khác nhau.
Nhóm Quỳnh Như
Nhân học 07
Read more…

Tải sách "Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận Nhân học "

19:25 |
Sách Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam:

Những cách tiếp cận Nhân học do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh ấn hành năm 2010 đã được chuyển thành file PDF và được tải miễn phí tại mục E-book Nhân học hoặc tải tại đây:
http://sociallife.vn/
Read more…

"Chân thắng" và "Chân ga"- tác giả : Bùi Văn Nam Sơn

17:51 |
“Văn hóa là chân thắng. Kinh tế là chân ga”
 Nguyên Ngọc
' Trong bài “Văn hóa… để làm gì?" (Vietnamnet, 10.7.2009), Nguyên Ngọc viết: “Những gì gọi là văn hóa chúng ta đang làm thường rất ồn ào, và văn hóa thật thì lại không ồn ào. Nó thâm trầm.


Cái thắng có ồn ào bao giờ đâu, trừ khi phải thắng gấp vì sắp chết đến nơi! Chúng ta chưa thật sự làm văn hóa. Có phải thật thế không? Tôi rất mong được thử trao đổi, để cùng suy nghĩ tiếp, và để cho cuộc đi tới của chúng ta hôm nay, và cả ngày mai nữa, nhanh mà vững, mà bền, và nói cho cùng, để cuộc đi tới của chúng ta hôm nay thật sự đưa đến sự trong lành cho xã hội và hạnh phúc cho con người”. Với nhận định trên đây, nhà văn Nguyên Ngọc đã có sự trăn trở của một nhà văn hóa, hay, đúng hơn, của một nhà phê phán văn hóa, tiếp nối một truyền thống có lịch sử rất lâu dài và phong phú, nhưng đặc biệt nổi bật trong thời gian gần đây. Xin đóng góp phần nhỏ vào cuộc trao đổi này chung quanh một vài điểm liên quan đến khái niệm văn hóa và phê phán văn hóa đang được thảo luận ở các nước phát triển.

 TỪ SỰ MỞ RỘNG KHÁI NIỆM VĂN HÓA…
 Hiện nay, khái niệm văn hóa đang được mở rộng và, đôi khi có sự thay đổi sâu sắc về ý nghĩa. Thông thường, văn hóa được hiểu theo nghĩa hẹp của một phạm vi đặc thù: văn chương nghệ thuật, khoa học với sợi dây nối kết là triết học. Nó đồng nhất với biểu trưng về “Chân-Thiện-Mỹ” như trong quan niệm ở thế kỷ 19. Văn hóa, theo nghĩa ấy, là giảng đường, nhà hát, thư viện, nhà bảo tàng, các hội nghệ sĩ, các trang “feuilleton” trên báo chí, và, tất nhiên, là cả các cơ quan phụ trách những lĩnh vực ấy. Nhưng, ta lại đối diện với một nghĩa rộng hơn. Theo đó, văn hóa không phải là một khái niệm đặc thù, mà là tổng thể của tất cả những gì do con người làm ra.
Với nghĩa rộng và tổng thể này, văn hóa đồng nghĩa với “hình thức đời sống”. Định nghĩa này chính thức được thừa nhận trong văn kiện quốc tế quan trọng nhất về văn hóa. Đó là Tuyên bố Mexico-City về chính sách văn hóa của Hội nghị thế giới lần thứ hai về văn hóa của UNESCO từ ngày 26.07 đến 06.08.1982 gồm 129 quốc gia thành viên, gồm lời nói đầu và 54 điều khoản (liên quan đến: bản sắc văn hóa; kích thước văn hóa và sự phát triển; văn hóa và dân chủ; di sản văn hóa; sáng tạo và giáo dục nghệ thuật và tinh thần; mối quan hệ giữa văn hóa với giáo dục, khoa học và truyền thông; lập kế hoạch, quản trị và tài trợ những hoạt động văn hóa; và sau cùng, sự hợp tác quốc tế về văn hóa). Định nghĩa chính thức về văn hóa và chức năng của văn hóa trong Tuyên bố này thật đáng ghi lại: “Hội nghị nhất trí cho rằng văn hóa theo nghĩa rộng nhất là toàn bộ những phương diện tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm tạo nên đặc điểm của một xã hội hay một nhóm xã hội. Văn hóa không chỉ bao hàm văn học nghệ thuật mà cả những hình thức đời sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống và những loại hình tín ngưỡng. Hội nghị nhất trí cho rằng, thông qua văn hóa, con người có năng lực suy tưởng về chính mình.
Chỉ thông qua văn hóa, chúng ta mới trở thành những thực thể người, có lý trí, có năng lực phán đoán phê phán và có xúc cảm về bổn phận luân lý. Chỉ thông qua văn hóa, ta mới nhận ra những giá trị, và tiến hành lựa chọn chúng. Chỉ thông qua văn hóa, con người mới biểu lộ được chính mình, mới có ý thức về mình, nhận ra sự bất toàn, biết đặt những thành tựu của chính mình thành vấn đề, tìm kiếm không mệt mỏi những nội dung ý nghĩa mới mẻ và tạo nên những công trình nhờ đó con người vượt ra khỏi sự hữu hạn của mình”1. Chính sách văn hóa, thể hiện chi tiết trong 54 điều, xuất phát từ cách hiểu như thế về văn hóa và sứ mệnh của văn hóa. Có rất nhiều lý do dẫn đến cách hiểu mở rộng này.
Dưới giác độ xã hội học và kinh tế, đó là sự lớn mạnh của xã hội đại chúng và muộn hơn là xã hội tiêu thụ, nhất là trong các xã hội Tây phương, từ cuối thế kỷ 19 sang thế kỷ 20. Những gì trước đây thuộc “văn hóa cao cấp”, - tức văn hóa theo nghĩa hẹp - bây giờ trở thành sở hữu chung của quần chúng. Xã hội ấy đòi hỏi một nền sản xuất có tính công nghiệp về văn hóa, một “nền công nghiệp văn hóa” (Kulturindustrie), như cách đặt tên của Horkheimer và Adorno vào thập niên 1940 thế kỷ hai mươi. Từ cuối những năm 80, khái niệm “xã hội văn hóa” và cùng với nó, khẩu hiệu “thẩm mỹ hóa thế giới sống” trở thành dẫn đạo ở phương Tây dưới ảnh hưởng của trào lưu hậu-hiện đại Pháp và phong trào “cultural studies” ở khu vực Anh-Mỹ. Có cả những lý do chính trị, với nhiều nghịch lý lạ thường.
Chính các khái niệm về bản sắc văn hóa, bảo vệ lịch sử và ngôn ngữ dân tộc, chứ không chỉ sự nghèo đói, bị bóc lột, áp bức, là những yếu tố quyết định nơi các phong trào giải phóng dân tộc từ những thập niên 50, và cả trong các phong trào nữ quyền ở một số thời kỳ nhất định.
Terry Eagleton2 có một nhận xét lý thú: khi ngôn ngữ kêu đòi “giải phóng” chuyển từ lĩnh vực chính trị sang lĩnh vực văn hóa, vô hình trung “cánh tả” đã sử dụng trở lại hệ khái niệm cố hữu của “cánh hữu” mà hình thức cực đoan nhất của nó ngày nay là của Leo Strauss và Samuel P. Huntington về “sự xung đột giữa các nền văn hóa” (và Eagleton không ngần ngại gọi là “dã man”!): “Sau chiến tranh lạnh, trên thế giới chỉ còn đáng kể là những ngọn cờ và những biểu trưng về bản sắc văn hóa như chữ thập, trăng lưỡi liềm và thậm chí cả khăn đội đầu, vì văn hóa giữ vai trò quyết định”3.

… ĐẾN SỰ ĐẢO NGƯỢC Ý NGHĨA
 Khái niệm “văn hóa” không chỉ được mở rộng mà còn trải qua nhiều cuộc đảo lộn về ý nghĩa nữa. Sự đối lập ban đầu của nó với sự “dã man” được thay thế bằng sự đối lập khác trong bản thân nền văn hóa: giữa văn hóa và văn minh. Cặp khái niệm này xuất phát từ Immanuel Kant và mang đặc thù của nước Đức. Khác với Rousseau, Kant không còn viện dẫn đến “tự nhiên” như yếu tố bên ngoài để so sánh, mà viện đến một sự phân biệt nội tại, đó là giữa văn hóa và văn minh. Đặc điểm phân biệt ở đây là luân lý: bao lâu ta chỉ tuân theo những luật lệ và quy ước xã hội (kỳ cùng là từ những động cơ vị kỷ), ta chỉ mới được “văn minh hóa” (ziviliziert). Chỉ trở thành “văn hóa” (kultiviert) khi ta làm việc ấy với lòng xác tín sáng suốt. Tuy việc đối lập “văn hóa/văn minh” là đặc thù của nước Đức, nhưng từ những năm 60 thế kỷ trước, nó trở thành phổ biến khi văn hóa được đặt ở vị trí ưu tiên trước chính trị.
 Tuy nhiên, vị trí ưu tiên của văn hóa lại gắn liền với một sự đảo lộn quan trọng về ý nghĩa bên trong khái niệm này. Trong khi khái niệm “văn minh” bây giờ đại diện cho các giá trị hiện đại như tính phổ quát, sự tự trị, tính chủ thể, tính lý tính, sự tự phê phán và cả sự tự trào, thì khái niệm “văn hóa” lại biểu thị sự đối nghịch với những giá trị ấy. “Văn hóa” mang ý nghĩa bảo thủ, tiền-hiện đại của sự trung thành mù quáng và tình cảm gắn bó với cộng đồng mà mình thuộc về, và, vì nó, trong những tình huống cực đoan, người ta sẵn sàng gây chiến và đổ máu. Hành động không còn được biện minh bằng những lý lẽ mà người khác có thể chia sẻ, trái lại, bằng việc nhân danh nền “văn hóa” riêng của mình: tôi hành động như vẫn luôn hành động như thế trong cộng đồng của tôi. Một thứ “chủ nghĩa duy văn hóa” như thế xâm nhập cả vào trong tư duy khoa học. Cái gọi là “bước ngoặt văn hóa” (cultural turn) trong các ngành khoa học nhân văn, ở dạng cực đoan, sẽ ngoảnh lưng lại với tư duy chính trị và xã hội. Người ta có khi không khỏi nhận ra một sự “tương đồng thật mỉa mai” giữa một số biểu hiện của chủ nghĩa hậu-hiện đại và…
 Hồi giáo cực đoan! Bao lâu “văn hóa” vẫn còn được hiểu như một sự đối lập nào đó với tính chất phổ quát của “văn minh”, sẽ ẩn chứa một nguy cơ: văn hóa trở thành bạo động, thậm chí, “dã man”4. Việc gắn “văn hóa” với… “dã man” không phải hoàn toàn mới lạ. Ở phương Tây, Friedrich Schiller, nếu không phải là người đầu tiên thì cũng là người nhấn mạnh một cách nổi bật. Trong bức thư thứ tám trong “Các bức thư về giáo dục thẩm mỹ” (1795), Schiller đã đặt câu hỏi: “tại sao chúng ta vẫn còn là những con người dã man?”. Theo Schiller, con người “hoang dã” đặt tình cảm lên trên những nguyên tắc, ngược lại, con người “dã man” dùng những nguyên tắc để phá hủy tình cảm.
Hai phương diện này - người hoang dã và người dã man, sự ngự trị của tình cảm hoặc của nguyên tắc -, theo Schiller, không chỉ diễn ra tuần tự trong lịch sử, mà còn có thể diễn ra đồng thời, như ở thời ông: “dã man” trở thành một đặc tính cơ bản của văn hóa, và đó không gì khác hơn là sự khắc nghị, xơ cứng của những quy phạm có giá trị tuyệt đối trong xã hội, hay nói khác đi, sự “dã man” của lý tính luân lý. Nếu thừa nhận cùng Schiller rằng “không bao giờ có một trang nào của văn hóa mà không đồng thời là một trang của sự dã man” (Walter Benjamin), thì ngày nay cách hiểu về sự “dã man” này cũng có sự thay đổi.
Schiller hiểu đó là thế giới của lý tính phiến diện, nghiêm ngặt, giáo huấn, phán truyền, còn ngày nay người ta hiểu đó là thế giới của những nề nếp suy nghĩ và hành động giáo điều, không-phản tư, không đặt nền trên sự lập luận và đối thoại. Nhưng, điểm chung giữa Schiller và chúng ta ngày nay là đều thấy cần tiến hành phê phán văn hóa và có cái nhìn tỉnh táo về khái niệm rất hàm hồ này.

“VĂN HÓA” BỊ BAO VÂY
 Trong thế kỷ 21, “văn hóa” có còn giữ được vai trò “chân thắng”, xét cả ở phạm vi rộng lớn của thế giới hiện đại, nhất là ở các xã hội phát triển, mà sớm muộn cũng sẽ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nước ta? Viễn cảnh vừa có vẻ khá ảm đạm và phức tạp, vừa le lói những tia hy vọng, ít nhất với ba “triệu chứng” đang thu hút sự quan tâm của công chúng lẫn giới chuyên môn:
 1. “Thế giới cuộc sống” (văn hóa) bị “hệ thống” (tiền và quyền lực) bao vây
 Con người chủ thể văn hóa giao tiếp với nhau trong chân trời của một “thế giới cuộc sống. Thế giới cuộc sống hầu như là nơi người nói và người nghe gặp nhau, theo định nghĩa của Jürgen Habermas. “Thế giới cuộc sống” (văn hóa) và “hệ thống” (tiền và quyền lực) là sự lưỡng phân giữa một bên là sự tái sản xuất biểu trưng và bên kia là sự tái sản xuất vật chất của xã hội.
 Chính trong diễn trình tiến hóa của đời sống văn hóa-xã hội mà hai lĩnh vực tái sản xuất này phân hóa thành hai lĩnh vực hoạt động độc lập. Với Habermas, tiến trình này là đặc điểm trung tâm của xã hội hiện đại, với ba giai đoạn phát triển: - các xã hội truyền thống: “thế giới cuộc sống” chưa bị phân ly với “hệ thống”, nghĩa là, những hình thức xã hội trong đó sự tái sản xuất vật chất còn được điều chỉnh và chi phối bởi lĩnh vực của những giá trị văn hóa. Các chuẩn mực văn hóa còn ảnh hưởng quyết định đến các điều kiện của nền sản xuất vật chất. - giai đoạn thứ hai, từ thời
Cải cách đến thời công nghiệp hóa, “hệ thống” bắt đầu tách rời “thế giới cuộc sống”, với hệ quả: “quyền lực chính trị” và “quyền lực đồng tiền”
- như là công cụ điều chỉnh của “hệ thống”
- vốn quy định lô gíc hành động của con người, nay đã bị phân ly với những giá trị và chuẩn mực văn hóa. Sự xâm hấn của “hệ thống” lên “văn hóa” được Habermas gọi là “sự thuộc địa hóa thế giới sống”.
- giai đoạn thứ ba hiện nay là sự bùng nổ công khai sự xung đột giữa “hệ thống” và “thế giới cuộc sống”. Giải pháp nào cho nó là câu hỏi còn để mở5.
 2. “Sức mạnh của những liên kết yếu”
 Trong tác phẩm nổi tiếng “Con người mềm dẻo”, 1998 6, nhà xã hội học Richard Sennett dường như đã phác họa hình ảnh con người trong “nền văn hóa của chủ nghĩa tư bản mới” khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba, như là hệ quả của những phân tích trên đây của Habermas. Sự phân tích không mấy tích cực về những thay đổi trong thế giới lao động tương lai cho thấy: “chủ nghĩa tư bản mới” sẽ vượt bỏ mọi ranh giới, tháo dỡ những cấu trúc mang tính định chế mà con người đã quen thuộc trước nay. Thay vì có sự an toàn, vững chắc của công ăn việc làm, và có thể dự tính được tương lai sẽ là trải nghiệm về một sự “nổi trôi”: từ một “trật tự dài hạn” trở thành một sự “làm ăn tạm bợ”.
Thay cho hình mẫu định chế quen thuộc sẽ là những cấu trúc kiểu nối mạng. “Chủ nghĩa tư bản mềm dẻo” xóa bỏ những cấu trúc dựa trên tính dài hạn, bởi “những cấu trúc kiểu nối mạng sẽ ít nặng nề hơn”. “Sức mạnh của những liên kết yếu” là hữu ích hơn những liên kết dài hạn. “Tính mềm dẻo” sẽ làm phai nhạt những “tính cách cố định”, buộc con người phải sẵn sàng “chấp nhận sự phân mảnh”. Kết quả sẽ hình thành mẫu người “mềm dẻo”: “một cái Tôi linh hoạt, một sự cắt dán của những mảnh vụn luôn biến động, luôn mở ngỏ với những trải nghiệm không ngừng mới mẻ. Đó chính là những điều kiện tâm lý chuẩn bị cho thế giới lao động ngắn hạn, không bền vững, không an toàn”. Đàng sau sự biến đổi trên bề mặt ấy là sự chuyển dịch sâu xa trong cấu trúc kinh tế-văn hóa: lao động sản xuất theo nghĩa cổ điển ngày càng mất vị trí cố hữu trong các quốc gia giàu có, và được chuyển sang các nước nghèo.
Giao dịch tiền tệ gia tăng trọng lượng, và cùng với nó, công ăn việc làm chuyển dịch từ lao động sản xuất sang lao động quản lý, quảng cáo, dịch vụ và giao dịch. Nền “văn hóa sự kiện” (Event Culture) chính là sản phẩm của nền văn hóa giao dịch tiền tệ, của nền văn hóa của xã hội dịch vụ, trong đó đồng tiền trở thành nhân tố chủ đạo. Sẽ chỉ còn sự tiêu thụ đơn thuần - không chỉ tiêu thụ thực phẩm mà còn là tiêu thụ văn hóa, tiêu thụ sự “tổ chức cuộc sống”. Bản thân sự trải nghiệm cuộc sống (“văn hóa sự kiện”) cũng trở thành hàng hóa, có thể mua, bán, cho thuê, nhất là máy móc, thiết bị, bản quyền, để được phép sử dụng dù chỉ trên màng hình (vd: những trò chơi điện tử…).
Nếu văn hóa của con người là văn hóa của những mối quan hệ, từ chính những mối quan hệ này sẽ quy định cả chính trị.
 3. Việc “không có công ăn việc làm” trong lòng “xã hội lao động” Thời cổ đại quý trọng sự nhàn rỗi, và đánh giá “lao động” từ sự nhàn rỗi.
 Ngược lại, thời cận và hiện đại tôn vinh lao động và xuất phát từ lao động để đánh giá thấp việc không lao động. Hậu quả nghịch lý: chính sự hợp lý hóa sản xuất đã tạo ra sự thất nghiệp (Keynes), đồng thời, người thất nghiệp cảm thấy mất hết ý nghĩa cuộc sống và cả giá trị bản thân, bởi lao động vẫn được xem như một giá trị và giá trị ấy chỉ có thể hiện thực hóa thông qua lao động. Đúng như Günther Anders nhận định: “Vấn đề không còn là phân phối công bằng những thành quả của lao động, mà là làm sao cho con người chịu đựng nỗi những hậu quả của việc không lao động”
7. Tóm lại, trong viễn cảnh như thế, khi “văn hóa” không chỉ còn có nghĩa hẹp như các giá trị tinh thần theo sơ đồ “thượng tầng” và “hạ tầng”, trái lại, được triển khai trong toàn bộ “hình thức cuộc sống” (bản thân việc phân biệt “thượng tầng/hạ tầng” thật ra là công việc của… thượng tầng, và, chẳng lẽ “hạ tầng” không có và nằm bên ngoài văn hóa?), thì định nghĩa về văn hóa và sứ mệnh văn hóa theo Tuyên bố UNESCO cần được hiểu và vận dung như thế nào?

MÔ HÌNH MỚI VỀ SỰ PHỒN VINH?
 Mô hình “chân thắng, chân ga” có lẽ cần được đặt lại trên một cơ sở mới: văn hóa - vốn mong manh - không đủ sức chạy theo hoặc tìm cách kìm hãm kinh tế, trái lại, cần song hành với nó, và cùng biến đổi với nó. Nhưng, muốn thế, phải dùng chính sức mạnh văn hóa để đề xướng và tác động cho một “mô hình mới về sự phồn vinh”. Ernst Ulrich von Weizsäcker trong “Chính sách trái đất” (1989)8 đã thử suy nghĩ theo chiều hướng ấy. “Mô hình mới về sự phồn vinh” này dựa trên một số nhân tố cơ bản sau đây:
 - những công nghệ tiết kiệm tài nguyên (sạch, hiệu quả, sinh thái, minh bạch, chấp nhận sửa sai và phù hợp với lao động cá nhân. - một cuộc cách mạng mới đối với các ngành khoa học, khắc phục tư duy cơ giới và xem trọng các ngành khoa học nhân văn và tinh thần.
 - sự tự do của hoạt động con người, nghĩa là, cần một định nghĩa mới về lao động: giảm thiểu hoạt động kinh doanh đơn thuần, hướng đến lao động cá nhân thân thiện với môi trường, với sức khỏe và việc chăm sóc con người, hướng đến những hoạt động tự quyết của cá nhân, trong đó giáo dục, văn hóa, việc tham dự chính trị, tăng cường thụ hưởng nghệ thuật và nâng cao tình bạn và tính liên đới xã hội giữ vai trò quan trọng. Như đã nói, những sáng kiến công nghệ, việc nâng cao năng suất, gia tăng tiết kiệm và cạnh tranh tất yếu sẽ dẫn đến việc giảm thiểu nhu cầu lao động.
Đón trước tình hình ấy, đang và sẽ có những tiền đề thuận lợi cho một định nghĩa mới về lao động: con người khẳng định được giá trị bản thân từ những phản ứng của người khác. Giá trị bản thân chỉ có khi tỏ ra hữu ích cho những người khác, với rất nhiều hình thức khác nhau, từ thiện nguyện, vô vị lợi đến được trả lương hay thù lao tương tự như hoạt động kinh doanh. Quan trọng nhất là một quan niệm mới về sự phồn vinh: không còn ở chỗ chiếm hữu nhiều tiền, mà ở chỗ có thêm nhiều thời gian và sự sáng tạo chủ động trong nội dung công việc.
 Nhiều người thất nghiệp đã có những trải nghiệm thú vị về việc này. Từ đó, ở các nước phát triển, người ta đang nghĩ đến những những giải pháp sáng tạo, phù hợp với tình hình ngày càng gia tăng số lượng những người “thất nghiệp”. Biến một tệ trạng thành một lợi thế, thậm chí, thành một cơ hội cho việc chuyển đổi quan niệm sống, dẫn tới sự chuyển đổi xã hội, đó là bài toán không phải không có lời giải, một khi xã hội từ bỏ quan niệm cũ, đầy thành kiến về “lao động”, “không lao động”, “sản xuất/tiêu thụ” v.v… Mô hình mới này cũng nhất thiết đòi hỏi một cách hiểu mới về giáo dục. Xã hội cần tạo điều kiện để người lao động có thể phát huy tài năng và sở trường bằng nhiều cách khác nhau, chứ không bó hẹp trong một cách sử dụng duy nhất và một chiều như trước nay.
Theo đó, cần trang bị cho người lao động một nền tảng giáo dục cơ bản thật linh hoạt và càng rộng càng tốt, gồm tối thiểu bốn thành tố có tầm quan trọng ngang nhau: - các năng lực phân tích - khoa học như trước nay, nhưng nhấn mạnh đến quan hệ giữa con người với tự nhiên và đến các mối quan hệ toàn cầu;
- nhiều năng lực thủ công để tự giúp mình và người lân cận, có sự tự tin để tự tay làm được một số công việc trước nay phải thuê mướn;
- các năng lực sáng tạo nghệ thuật để không chỉ có khả năng tiếp thu những thành tựu văn hóa mà còn chuẩn bị tham gia vào sáng tạo văn hóa và nghệ thuật;
 - các năng lực xã hội: từ việc cảm nhận và chia sẻ những khó khăn và đau khổ của người khác, cho đến chỗ thấu hiểu những tiến trình của hoạt động nhóm, khả năng giải quyết những xung đột và tham dự tích cực vào sinh hoạt chính trị, xã hội ở nhiều cấp độ khác nhau.
 Một nền tảng giáo dục cơ bản như thế cần được mở rộng và bổ sung liên tục bằng những cơ hội thuận tiện trong việc tiếp tục đào tạo và chuyên môn hóa trong một hệ thống “học suốt đời”. Với sự chuyển hướng như thế, người lao động có thể dễ dàng thay đổi các giai đoạn trong đời mình: những giai đoạn đi làm thuê và những giai đoạn tự hoạt động theo ý thích. Trước những biến động không lường trước được của xã hội hậu-công nghiệp, con người không còn bị buộc phải chấp nhận những điều kiện lao động tồi tệ với đồng lương chết đói!
 Nhiều quan niệm “không tưởng” trước đây, nếu chưa thể biến ngay thành sự thật, thì cũng có thể trở thành những định hướng không phải hoàn toàn mơ mộng viễn vông, ít ra ở các nước đã phát triển cao. Ta nhớ đến Thomas Morus (1478-1535) với hy vọng vào sự rút ngắn thời gian lao động, để cho “mỗi người có nhiều thì giờ ngoài việc kiếm sống”, nhờ đó học thêm những gì theo ý thích và “dành thì giờ rỗi việc cho các ngành khoa học”9.
Ta nhớ đến Tommaso Campanella (1568-1639) muốn giới hạn thời gian lao động cần thiết vào khoảng bốn tiếng đồng hồ, còn thời gian nhàn rỗi, dành cho “học tập, thảo luận, đọc sách, kể chuyện, viết, đi dạo, tập luyện thể xác và tinh thần, và vui chơi”10. Gần đây hơn là những học thuyết “không tưởng” của những Henri de Saint-Simon (1760-1825) và Charles Fourier (1772-1837), nhấn mạnh lạc thú của lao động không bị tha hóa, đến từ hoạt động sáng tạo và tự chủ của từng cá nhân. Thế kỷ 21, biết đâu, sẽ đặt những viên đá đầu tiên cho việc vượt ra khỏi những sự đối lập quen thuộc giữa poiesis (chế tạo) và praxis (thực hành), giữa vita activa (đời sống hoạt động) và vita contemplativa (đời sống chiêm nghiệm), giữa homo faber (con người lao động) và homo ludens (con người vui chơi)…
“Lao động” và “không lao động” sẽ thâm nhập vào nhau về mặt cấu trúc, hay nói khác đi, “chân thắng” sẽ được… gài sẵn vào “chân ga”! Tương ứng với điều ấy, sự phê phán văn hóa đi từ phê phán chủ quan (Rousseau, Kant) sang phê phán khách quan (Marx) đến phê phán văn hóa chính trị.
 MỘT NỀN VĂN HÓA ĐỀ KHÁNG! 
 Văn hóa như là “chân thắng”, theo một nghĩa nào đó, cần trở thành ý thức đề kháng: người lao động ngày càng nỗ lực tự làm chủ bản thân mình trước những thế lực kinh tế-tài-chính khổng lồ, trước những guồng máy quản lý và kiểm soát ngày càng tinh vi. Sự tự trị và tự quản của cá nhân như phác họa ở trên có nhiều cơ may trở thành hiện thực trong điều kiện mới của xã hội hậu-hiện đại. Thật ra, đại đa số người trong xã hội thường có những mục tiêu khá khiêm tốn trong cuộc sống: một vốn liếng giáo dục hợp lý, một thu nhập vừa phải và ổn định, một hoạt động tự do theo ý thích, yên tâm nuôi dạy con cái, có một tuổi già mạnh khỏe và một cái chết an lành. Những mục tiêu ấy không có gì chung với một thái độ tiêu thụ vô độ cả. Chính sự khủng hoảng trong đời sống kinh tế, chính trị
- sẽ còn diễn ra không ngừng trong thế kỷ 21 - lại tạo cơ hội cho con người khôi phục được những không gian tự do và tự quyết của mình thông qua hành động đoàn kết và liên đới. Những nhóm tự nguyện, những sáng kiến công dân để giúp đỡ nhau, những hình thức liên kết của một xã hội dân sự phát triển cũng chính là “chân thắng” có giá trị thực tiễn. Về mặt kinh tế, đó cũng là một “nền kinh tế thị trường đích thực từ “bên dưới” (Hernando de Soto). Về mặt tinh thần, nó mở đường cho những hình thức mới mẻ của cuộc sống, qua đó con người sáng tạo, trải nghiệm, học hỏi và kỳ cùng, vun bồi phẩm chất văn hóa của chính mình.
 Viết mừng sinh nhật lần thứ 80 của nhà văn hóa NGUYÊN NGỌC
Bùi Văn Nam Sơn
Tia sáng ( bộ khoa học và công nghệ )
Read more…

Top Hot